Đánh giá hiệu quả của phương pháp xạ trị kết hợp hóa trị u phổi hiệu quả nhất hiện nay U phổi, đặc biệt là ung thư phổi, là một ...
Đánh giá hiệu quả của phương pháp xạ trị kết hợp hóa trị u phổi hiệu quả nhất hiện nay
U phổi, đặc biệt là ung thư phổi, là một trong những bệnh lý ác tính có ảnh hưởng sâu sắc đến sức khỏe hệ hô hấp và chức năng toàn thân của người bệnh. Khối u phát triển không chỉ gây chèn ép mạch máu, phế quản dẫn đến ho ra máu, khó thở dữ dội, mà còn bào mòn thể trạng, tạo ra gánh nặng tâm lý lo âu và suy giảm nghiêm trọng chất lượng sống của cả bệnh nhân lẫn gia đình. Đối với các trường hợp u phổi ác tính giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc có di căn, việc lựa chọn đúng phác đồ điều trị đóng vai trò quyết định đến thời gian sống còn. Hiện nay, y học hiện đại đã ghi nhận nhiều bước tiến lớn, đặc biệt là sự kết hợp giữa các phương pháp không phẫu thuật như hóa trị, xạ trị, miễn dịch và phương pháp điều trị phẫu thuật.
Nghiên cứu y khoa về hiệu quả của các phương pháp điều trị u phổi
Các bằng chứng khoa học gần đây từ các nghiên cứu lớn trên thế giới đã làm sáng tỏ hiệu quả vượt trội của việc phối hợp đa mô thức trong điều trị u phổi.
- Một nghiên cứu tổng hợp đa trung tâm theo dõi 196 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến triển (giai đoạn IIIB-IIIC) được công bố trong giai đoạn 2017-2024 (PMID: 42065776) đã so sánh hai phương pháp chính: nhóm điều trị phẫu thuật (sau khi hóa trị kết hợp miễn dịch tân bổ trợ) chiếm 41.8% (82 bệnh nhân) và nhóm điều trị không phẫu thuật bằng hóa - xạ - miễn dịch đồng thời chiếm 58.2% (114 bệnh nhân). Kết quả cho thấy, mặc dù thời gian sống thêm không tiến triển bệnh (PFS) giữa hai nhóm không có sự khác biệt quá biệt lập (nhóm phẫu thuật đạt 32.2 tháng so với nhóm xạ trị đạt 21.3 tháng), nhưng phương pháp điều trị phẫu thuật lại mang lại lợi ích vượt trội về tổng thời gian sống còn (OS) với tỷ lệ sống sót dài hạn cao hơn hẳn so với nhóm điều trị không phẫu thuật (mOS của nhóm phẫu thuật chưa đạt đến trung vị trong khi nhóm không phẫu thuật là 71.3 tháng).
- Nghiên cứu hồi cứu đa trung tâm trên 183 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn III không thể phẫu thuật cắt bỏ từ tháng 1/2021 đến tháng 8/2023 (PMID: 41760405) đã đánh giá sự kết hợp giữa hóa trị, xạ trị và liệu pháp miễn dịch. Kết quả cho thấy nhóm sử dụng phác đồ hóa xạ trị đồng thời kết hợp củng cố bằng miễn dịch đạt thời gian sống thêm không tiến triển bệnh (PFS) trung vị lên tới 26.8 tháng, cao hơn hẳn so với nhóm chỉ sử dụng hóa trị miễn dịch trước rồi mới xạ trị sau (chỉ đạt 16.4 tháng). Tổng thời gian sống còn (OS) của nhóm phối hợp đồng thời đạt tới 45.4 tháng, chứng minh hiệu quả kéo dài sự sống rõ rệt của phác đồ phối hợp kỹ thuật cao này.
- Đối với ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn khu trú, một phân tích dữ liệu thực tế tại hai bệnh viện lớn trên 318 bệnh nhân cao tuổi (PMID: 42134158) từ năm 2020 đến năm 2023 chỉ ra rằng việc áp dụng phác đồ chuẩn hóa xạ trị kết hợp mang lại thời gian sống còn trung vị toàn bộ là 20.52 tháng. Đặc biệt, những bệnh nhân được tiếp cận với xạ trị lồng ngực bổ trợ có thời gian sống còn kéo dài lên đến 30.13 tháng so với nhóm không xạ trị lồng ngực (chỉ đạt 15.61 tháng).
So sánh ưu nhược điểm giữa điều trị không phẫu thuật và điều trị phẫu thuật
Việc lựa chọn giữa điều trị không phẫu thuật (hóa trị, xạ trị, liệu pháp miễn dịch) và điều trị phẫu thuật phụ thuộc lớn vào giai đoạn bệnh, loại mô bệnh học và thể trạng của bệnh nhân.
Phương pháp điều trị không phẫu thuật (Hóa trị kết hợp xạ trị và miễn dịch)
- Ưu điểm: phương pháp này có phạm vi tác động rộng, giúp kiểm soát tốt các tế bào ác tính ở cả vi căn và các tổn thương tại chỗ lân cận lồng ngực mà phẫu thuật không thể can thiệp được do khối u dính bết mạch máu lớn. Bệnh nhân tránh được cuộc đại phẫu mở ngực, giảm thiểu các nguy cơ tai biến trong mổ.
- Nhược điểm: không thể loại bỏ hoàn toàn gốc rễ cơ học của khối u đại thể trong một số trường hợp u quá lớn, dễ dẫn đến hiện tượng kháng thuốc hoặc tái phát tại chỗ. Ngoài ra, việc hóa xạ trị kéo dài có thể gây độc cho tủy xương, viêm phổi do tia xạ hoặc suy kiệt thể trạng.
Phương pháp điều trị phẫu thuật
- Ưu điểm: đây là phương pháp triệt căn triệt để nhất khi có thể loại bỏ hoàn toàn khối u phổi nguyên phát và nạo vét hạch vùng tận gốc. Khi loại bỏ được tổn thương cơ học, người bệnh giảm ngay lập tức các triệu chứng chèn ép, ho ra máu hay xẹp phổi, tạo cơ hội đạt được đáp ứng hoàn toàn về mặt mô bệnh học (pCR) mang lại thời gian sống dài hạn tốt nhất (PMID: 42065776).
- Nhược điểm: đây là một cuộc đại phẫu xâm lấn đòi hỏi người bệnh phải có chức năng hô hấp và dự trữ tim mạch tốt. Phẫu thuật lồng ngực ẩn chứa các nguy cơ tai biến gây mê, đau sau mổ và các biến chứng kỹ thuật đường thở.
Khi nào nên phẫu thuật u phổi
Chỉ định can thiệp ngoại khoa cần được cân nhắc kỹ lưỡng qua hội chẩn đa chuyên khoa. Bệnh nhân được xem xét phẫu thuật khi đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể:
- Khối u ở giai đoạn sớm (giai đoạn I, II) hoặc giai đoạn III tiến triển tại chỗ nhưng có khả năng dung nạp tốt với hóa trị, miễn dịch tân bổ trợ làm co nhỏ khối u, chuyển từ không thể cắt bỏ sang trạng thái có thể cắt bỏ hoàn toàn sạch tổn thương (PMID: 42065776).
- Khối u phổi thể biệt hóa (như ung thư biểu mô tuyến hoặc biểu mô vảy) không có tình trạng di căn xa sang các cơ quan nội tạng khác như gan, xương, não.
- Bệnh nhân có thể trạng tốt (chỉ số toàn trạng ECOG dưới 2), chức năng thông khí phổi và thể tích thở ra tối thiểu trong giây đầu tiên (FEV1) đạt chuẩn cho phép cắt thùy phổi hoặc cắt một bên phổi mà không gây suy hô hấp sau mổ.

Những điều cần biết trước khi phẫu thuật u phổi
Quá trình chuẩn bị trước mổ đóng vai trò thiết yếu để đảm bảo an toàn cho cuộc phẫu thuật lồng ngực:
- Khám đánh giá toàn diện: người bệnh sẽ được thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu bao gồm đo chức năng hô hấp, chụp cắt lớp vi tính (CT) ngực cản quang, làm điện tâm đồ và siêu âm tim để đánh giá chính xác chức năng tim phổi.
- Chuẩn bị thể trạng và tập thở: bệnh nhân bắt buộc phải dừng hút thuốc lá hoàn toàn ít nhất 2 đến 4 tuần trước mổ. Bác sĩ và chuyên viên vật lý trị liệu sẽ hướng dẫn người bệnh tập thở bằng dụng cụ khuyến khích hô hấp (incentive spirometer) nhằm tăng cường độ giãn nở của nhu mô phổi lành, giảm nguy cơ xẹp phổi sau mổ.
- Điều chỉnh thuốc và dinh dưỡng: người bệnh cần thông báo đầy đủ các thuốc đang sử dụng, đặc biệt là thuốc chống đông máu để có kế hoạch ngưng thuốc phù hợp. Chế độ ăn giàu dinh dưỡng, protein được khuyến khích để nâng cao sức đề kháng trước khi bước vào phòng mổ.
Thời gian nằm viện và quá trình phục hồi
Sau một cuộc phẫu thuật cắt u phổi, thời gian nằm viện thường dao động trong khoảng từ 5 đến 7 ngày tùy thuộc vào phương pháp mổ (mổ nội soi ít xâm lấn hay mổ mở ngực) và tốc độ phục hồi của hệ thống dẫn lưu lồng ngực. Người bệnh bắt buộc phải nằm lại viện theo dõi ít nhất 1 đêm tại phòng hồi sức tích cực sau mổ để kiểm soát các dấu hiệu sinh tồn và áp lực đường thở.
Trong những ngày đầu, các bác sĩ sẽ duy trì hệ thống ống dẫn lưu lồng ngực để hút sạch dịch và khí tồn dư, giúp phổi nở tốt. Bệnh nhân được khuyến khích vận động sớm, ngồi dậy và đi lại nhẹ nhàng ngay từ ngày thứ hai sau mổ dưới sự hỗ trợ của nhân viên y tế nhằm tăng cường tuần hoàn, tránh tắc mạch và tăng thông khí phổi.
Các biến chứng có thể gặp phải và nguyên tắc xử trí
Phẫu thuật u phổi là kỹ thuật chuyên sâu nên vẫn tồn tại một số rủi ro nhất định từ nhẹ đến nặng:
- Rò khí kéo dài qua ống dẫn lưu: đây là biến chứng thường gặp khi diện cắt nhu mô phổi chưa liền hoàn toàn. Nguyên tắc xử trí cơ bản là tiếp tục duy trì hệ thống hút áp lực âm liên tục qua ống dẫn lưu lồng ngực, theo dõi sát lượng khí thoát ra; trường hợp rò lớn kéo dài trên 7 ngày có thể cần cân nhắc bơm dính màng phổi hoặc nội soi khâu lại.
- Xẹp phổi và viêm phổi sau mổ: do bệnh nhân đau nên không dám ho khạc, dẫn đến ứ đọng đờm nhớt gây bít tắc phế quản. Nguyên tắc xử trí bao gồm giảm đau tối ưu bằng phong bế thần kinh hoặc giảm đau tự động (PCA), thực hiện vỗ rung bài tiết đờm, hút đờm qua nội soi phế quản nếu cần, kết hợp sử dụng kháng sinh phổ rộng.
- Chảy máu trong lồng ngực: có thể xảy ra do tuột ghim, tuột chỉ buộc mạch máu hoặc chảy máu từ thành ngực. Nguyên tắc xử trí là theo dõi sát lượng máu qua ống dẫn lưu (nếu trên 200ml/giờ trong 3 giờ liên tiếp), truyền máu kịp thời và phẫu thuật mở lại ngực cấp cứu để cầm máu nếu có chỉ định.
- Nhiễm trùng vết mổ hoặc mủ màng phổi: do tạp nhiễm vi khuẩn trong hoặc sau mổ. Nguyên tắc xử trí là làm sạch vết thương, cấy dịch tìm vi khuẩn, đổi kháng sinh theo kháng sinh đồ và đảm bảo dẫn lưu màng phổi thật thông thoáng.
Kết luận
Việc điều trị u phổi hiện nay không còn đơn độc một phương pháp mà là sự phối hợp chặt chẽ mang tính cá thể hóa cao giữa phẫu thuật ngoại khoa và các biện pháp hóa trị, xạ trị, miễn dịch. Đối với những trường hợp có chỉ định, phẫu thuật đóng vai trò cốt lõi giúp triệt tiêu khối u đại thể, mang lại cơ hội sống còn dài lâu và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. Việc hiểu rõ quy trình từ khâu chuẩn bị, các biến chứng có thể gặp phải cho đến chế độ phục hồi sẽ giúp bệnh nhân an tâm điều trị. Người bệnh cần đến trực tiếp các cơ sở y tế chuyên khoa sâu để được thăm khám, chụp chiếu và nhận tư vấn phác đồ điều trị chính xác, an toàn nhất từ các bác sĩ chuyên khoa.
Để có lộ trình điều trị u phổi tối ưu và tầm soát toàn diện các bệnh lý đường hô hấp, lồng ngực, người bệnh nên đến khám trực tiếp với Bác sĩ Trần Quốc Hoài tại Trung tâm Lồng ngực - Mạch máu, Bệnh viện đa khoa Tâm Anh TP.HCM. Việc chẩn đoán sớm và can thiệp kịp thời bằng các kỹ thuật hiện đại, ít xâm lấn sẽ giúp nâng cao đáng kể cơ hội chữa lành và bảo tồn tối đa chức năng phổi.
Tài liệu tham khảo
- Gong L, Duan F, Li X, Wang J. [Surgery versus definitive immuno-chemoradiotherapy for cN3 non-small cell lung cancer]. Multicenter Retrospective Study. 2017-2024. PMID: 42065776.
- Xu Q, Qi Y, Zhai X, Chen F, Guo Y, Zhu H. Concurrent chemoradiotherapy followed by immune consolidation therapy versus induction chemoimmunotherapy followed by radiotherapy in unresectable stage III NSCLC: a retrospective cohort study. Journal of Cancer Research and Clinical Oncology. 2024. PMID: 41760405.
- Sun Z, Xin W, Tian Y, Lu S, Wang Y, Li L, Han S, Tang X, Zhu H. Treatment patterns of elderly patients with limited-stage small-cell lung cancer in real-world data: A multicentre retrospective analysis. Retrospective Study. 2024. PMID: 42134158.
Bình luận