Cập nhật mới nhất 2024 về các bài tập thở cải thiện chức năng phổi được bác sĩ khuyên dùng Các bệnh lý hô hấp mãn tính và tổn th...
Cập nhật mới nhất 2024 về các bài tập thở cải thiện chức năng phổi được bác sĩ khuyên dùng
Các bệnh lý hô hấp mãn tính và tổn thương thực thể tại phổi đang ngày càng gia tăng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh lý, tâm lý và các hoạt động xã hội của người bệnh. Về mặt sinh lý, sự suy giảm chức năng thông khí khiến cơ thể luôn trong tình trạng thiếu oxy, dẫn đến mệt mỏi kinh niên, hụt hơi ngay cả khi thực hiện các sinh hoạt thường ngày. Hệ quả này kéo theo những hệ lụy tiêu cực về tâm lý như tâm trạng lo âu, trầm cảm, sợ hãi mỗi khi cơn khó thở xuất hiện. Dần dần, người bệnh có xu hướng cô lập bản thân, giảm tương tác xã hội và giảm sút chất lượng cuộc sống một cách trầm trọng.
Bên cạnh việc dùng thuốc, phục hồi chức năng bằng các bài tập thở và phẫu thuật là những can thiệp then chốt giúp người bệnh khôi phục lại thể tích phổi và cải thiện khả năng vận động.
Nghiên cứu y khoa về hiệu quả của bài tập thở
Các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn và nghiên cứu hệ thống trên thế giới đã chứng minh các bài tập tập trung vào cơ hô hấp đem lại những cải thiện rõ rệt cho chức năng phổi:
- Nghiên cứu tổng quan hệ thống của Yu và các cộng sự trên 1171 bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) cho thấy, việc thêm các bài tập cơ hô hấp vào phác đồ chuẩn giúp giảm đáng kể điểm số khó thở mMRC và cải thiện chất lượng cuộc sống thông qua bảng câu hỏi SGRQ. Đồng thời, dung tích sống gắng sức (FVC) của nhóm tập luyện tăng trung bình 0,37 lít so với nhóm đối chứng (PMID: 41659952).
- Thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát của Törnberg và cộng sự trên các bệnh nhân có hội chứng sau nhiễm COVID-19 bị suy giảm cơ hô hấp chứng minh rằng, việc tập luyện cơ hít vào hai lần mỗi ngày kết hợp vận động giúp tăng sức mạnh cơ hít vào lên thêm 18% sau 8 tuần, làm giảm rõ rệt tần suất ho (PMID: 42012216).
- Một nghiên cứu gộp của Chen và cộng sự trên 249 bệnh nhân có tổn thương hệ thần kinh ảnh hưởng đến hô hấp cho thấy, nhóm thực hiện bài tập cơ hô hấp đạt mức cải thiện đáng kể ở chỉ số áp lực thở ra tối đa (SMD = 0,42) và tỷ lệ FEV1/FVC (SMD = 0,52) (PMID: 41978886).
- Nghiên cứu của Xu và các đồng nghiệp về mô hình phục hồi chức năng phổi đa chiều gồm các bài tập thở tiến triển ghi nhận nhóm can thiệp tăng chỉ số FEV1% trung bình là 6,72%, trong khi nhóm chỉ chăm sóc thông thường giảm 0,02% (PMID: 41939758).
So sánh giữa điều trị không phẫu thuật và điều trị phẫu thuật
Đối với các tổn thương phổi tiến triển hoặc có cấu trúc bất thường (như u phổi, kén khí lớn, xơ hóa khu trú), việc lựa chọn phương pháp điều trị cần dựa trên sự cân nhắc kỹ lưỡng giữa điều trị không phẫu thuật và điều trị phẫu thuật.
Điều trị không phẫu thuật bằng thuốc kết hợp bài tập thở có ưu điểm là tính an toàn cao, không xâm lấn, giúp tăng cường thể tích hô hấp và giảm triệu chứng cho các trường hợp bệnh ở giai đoạn ổn định hoặc chuẩn bị đón nhận phẫu thuật. Nhược điểm của phương pháp này là không thể giải quyết được các tổn thương thực thể đã định hình, hiệu quả phụ thuộc nhiều vào sự kiên trì của người bệnh và không ngăn chặn được sự tiến triển của các khối u hoặc kén khí lớn tiềm ẩn nguy cơ vỡ gây tràn khí màng phổi.
Điều trị phẫu thuật (như cắt thùy phổi, phẫu thuật giảm thể tích phổi) có ưu điểm là loại bỏ triệt để nguồn gốc tổn thương, giải phóng vùng nhu mô phổi lành bị chèn ép, từ đó khôi phục lại cơ học thở một cách nhanh chóng. Nhược điểm là phương pháp này có tính chất xâm lấn, đòi hỏi người bệnh phải có đủ điều kiện sức khỏe để chịu đựng cuộc mổ và có một tỷ lệ nhỏ đối mặt với các biến chứng sau phẫu thuật.
Khi nào nên phẫu thuật
Can thiệp ngoại khoa được chỉ định cụ thể trong các trường hợp sau:
- Người bệnh có khối u phổi, nốt đơn độc hoặc tổn thương nghi ngờ ác tính cần cắt bỏ thùy phổi.
- Các kén khí lớn chiếm hơn một phần ba thể tích lồng ngực, gây chèn ép nhu mô phổi lành bên cạnh hoặc đã có tiền sử vỡ gây tràn khí màng phổi tái diễn.
- Bệnh nhân suy giảm chức năng phổi giai đoạn cuối do khí phế thũng khu trú nặng, có chỉ số thể tích khí cặn tăng cao, không đáp ứng với điều trị nội khoa tối đa nhưng vẫn đủ điều kiện để thực hiện phẫu thuật giảm thể tích phổi.
Những điều cần biết trước khi phẫu thuật
Trước khi tiến hành ca mổ, người bệnh sẽ được thực hiện các bước chuẩn bị nghiêm ngặt:
- Đánh giá toàn diện chức năng hô hấp thông qua đo hô hấp ký, khuếch tán khí qua màng phế nang mao mạch (DLCO) và xét nghiệm khí máu động mạch nhằm đảm bảo phần phổi còn lại sau mổ đủ duy trì sự sống.
- Thực hiện chương trình tiền phục hồi chức năng (pre-rehabilitation) bằng cách tập thở với dụng cụ khuyến khích (incentive spirometer) ít nhất 2 đến 4 tuần trước mổ để tăng cường sức mạnh cơ hô hấp, giảm lượng đờm ứ đọng và tối ưu hóa thể tích phổi. Nghiên cứu của Lu và cộng sự trên 880 bệnh nhân cho thấy việc tập thở chu phẫu giúp giảm tỷ lệ viêm phổi hậu phẫu (OR = 0,38) và giảm tổng tỷ lệ biến chứng chung (OR = 0,66) (PMID: 40877852). Tương tự, nghiên cứu của Yang và cộng sự chứng minh tập thở trước mổ giúp cải thiện rõ rệt khoảng cách đi bộ 6 phút (6MWD) sau phẫu thuật (PMID: 41987624).
- Điều chỉnh các bệnh lý nền đi kèm như kiểm soát huyết áp, đường huyết và ngưng hoàn toàn việc hút thuốc lá ít nhất 4 tuần trước khi cuộc mổ diễn ra.
Thời gian nằm viện
Đối với các phẫu thuật lồng ngực hiện đại (đặc biệt là phẫu thuật nội soi lồng ngực ít xâm lấn), thời gian nằm viện thông thường dao động từ 3 đến 5 đêm tùy thuộc vào tốc độ hồi phục và thời gian lưu ống dẫn lưu màng phổi của từng bệnh nhân. Trong một số trường hợp can thiệp rất nhỏ hoặc sinh thiết màng phổi qua nội soi, thời gian nằm viện có thể ngắn hơn nhưng người bệnh vẫn cần được theo dõi sát sao ít nhất 1 đêm tại bệnh viện để đảm bảo an toàn, kiểm soát tốt tình trạng đau và loại trừ các nguy cơ chảy máu cấp tính.
Các biến chứng có thể gặp phải
Mặc dù kỹ thuật phẫu thuật hiện nay đã rất tiên tiến, người bệnh vẫn cần được thông tin về các biến chứng từ nhẹ đến nặng để phối hợp theo dõi:
- Đau sau mổ: mức độ nhẹ đến vừa do kích thích các dây thần kinh liên sườn. Nguyên tắc xử trí cơ bản là sử dụng thuốc giảm đau đa mô thức (thuốc uống kết hợp tê ngoài màng cứng hoặc tê phong bế thần kinh) và khuyến khích người bệnh vận động sớm.
- Xẹp phổi và ứ đọng đờm nhớt: mức độ nhẹ đến vừa do bệnh nhân đau không dám ho khạc. Nguyên tắc xử trí cơ bản là thực hiện lý liệu pháp hô hấp, hướng dẫn bài tập ho hiệu quả và hỗ trợ hút đờm qua đường mũi họng nếu cần thiết.
- Rò khí kéo dài: rò khí từ nhu mô phổi qua ống dẫn lưu trên 5 ngày, mức độ vừa. Nguyên tắc xử trí cơ bản là tiếp tục hút dẫn lưu áp lực âm nhẹ hoặc nối bình dẫn lưu với hệ thống van một chiều, kết hợp hướng dẫn người bệnh tập thở sâu để phổi nở ra áp sát vào thành ngực giúp bịt kín lỗ rò.
- Viêm phổi hậu phẫu: nhiễm trùng nhu mô phổi, mức độ vừa đến nặng. Nguyên tắc xử trí cơ bản là cấy đờm làm kháng sinh đồ, dùng kháng sinh phổ rộng kịp thời, hạ sốt và tăng cường long đờm.
- Chảy máu trong lồng ngực: biến chứng nặng có thể xuất hiện trong vài giờ đầu sau mổ. Nguyên tắc xử trí cơ bản là theo dõi sát lượng máu qua ống dẫn lưu, truyền máu, truyền dịch duy trì huyết động và tiến hành phẫu thuật lại ngay lập tức để cầm máu nếu lượng máu chảy ra vượt quá ngưỡng an toàn.
Kết luận
Việc phục hồi và cải thiện chức năng phổi đòi hỏi sự kết hợp linh hoạt giữa các bài tập cơ hô hấp khoa học và các biện pháp can thiệp ngoại khoa khi có chỉ định phù hợp. Việc phát hiện sớm các tổn thương thực thể và lựa chọn đúng thời điểm phẫu thuật giúp bảo tồn tối đa lượng nhu mô phổi lành, mang lại cơ hội phục hồi thể trạng nhanh chóng cho người bệnh. Để đảm bảo an toàn và có phác đồ điều trị chính xác nhất, bệnh nhân nên đến khám trực tiếp tại các cơ sở y tế chuyên khoa sâu để được các bác sĩ thăm khám và tư vấn chi tiết.
[imageurl]

Nếu nhận thấy các dấu hiệu hụt hơi, khó thở kéo dài hoặc có các tổn thương phổi cần can thiệp sâu, quý bệnh nhân nên đến khám trực tiếp với Bác sĩ Trần Quốc Hoài - Trung tâm Lồng ngực - Mạch máu tại Bệnh viện đa khoa Tâm Anh TP.HCM. Việc thăm khám trực tiếp sẽ giúp xác định chính xác tình trạng chức năng phổi, từ đó cá nhân hóa phác đồ tập luyện hoặc đưa ra phương án phẫu thuật ít xâm lấn an toàn nhất. Đừng trì hoãn việc điều trị để bảo vệ dung tích sống và chất lượng cuộc sống của chính mình.
Tài liệu tham khảo
- Yu Z, Huang H, Fang S, Zhang L. The Effectiveness of Respiratory Muscle Training on the Duration and Severity of Respiratory Symptoms in Patients With Chronic Obstructive Pulmonary Disease: A Systematic Review and Meta-Analysis. COPD. 2026. PMID: 41659952.
- Törnberg A, Svensson-Raskh A, Rydwik E, Halvarsson A, Bruchfeld J, Nygren-Bonnier M. Effect of inspiratory muscle training on inspiratory muscle strength in adults with post-COVID-19 condition and inspiratory muscle weakness: a randomized controlled trial. BMC Pulmonary Medicine. 2026. PMID: 42012216.
- Chen T, Jin Y, Jiang N, Lu J, Wei M, Huang H, Wen Y. Improving respiratory muscle strength in patients with multiple sclerosis through respiratory muscle training: a systematic review and meta-analysis. Neurological Sciences. 2026. PMID: 41978886.
- Xu Y, Gan G, Ding F, Wu H, Zheng H. Effectiveness of health ecology model-based pulmonary rehabilitation for acute exacerbation of chronic obstructive pulmonary disease: a preliminary study. Respiratory Medicine. 2026. PMID: 41939758.
- Lu B, Li X, Jiang H. Effect of radical resection of lung cancer combined with breathing training on lung cancer patients in thoracic surgery: a meta-analysis. Journal of Cardiothoracic Surgery. 2024. PMID: 40877852.
- Yang L, Chen A, Li L. Effects of Preoperative Mindfulness Training Combined With Active Breathing and Circulation Exercises on Pulmonary Function Recovery in Lung Cancer Patients After Lobectomy. Cancer Nursing. 2026. PMID: 41987624.
Bình luận