Lưu ý quan trọng khi các bài tập thở cải thiện chức năng phổi theo chuẩn Bộ Y tế Sức khỏe hô hấp đóng vai trò quyết định đối với...
Lưu ý quan trọng khi các bài tập thở cải thiện chức năng phổi theo chuẩn Bộ Y tế
Sức khỏe hô hấp đóng vai trò quyết định đối với chất lượng cuộc sống toàn diện của mỗi người. Khi chức năng phổi bị suy giảm do bệnh lý mạn tính hoặc tổn thương sau phẫu thuật, người bệnh thường phải đối mặt với những ảnh hưởng nặng nề về sinh lý như khó thở, mệt mỏi kéo dài và giảm khả năng vận động. Tình trạng này kéo theo các hệ lụy tâm lý như lo âu, trầm cảm, khiến người bệnh dễ rơi vào trạng thái cô lập và suy giảm khả năng tương tác xã hội.
Việc thực hiện các bài tập thở theo chuẩn Bộ Y tế là một giải pháp phục hồi chức năng phổi hiệu quả. Tuy nhiên, đối với một số tổn thương phổi tiến triển hoặc có cấu trúc bất thường, việc điều trị không phẫu thuật đơn thuần bằng các bài tập thở sẽ không thể giải quyết triệt để căn nguyên bệnh lý.

Nghiên cứu y khoa
Nhiều nghiên cứu y khoa quy mô lớn trên thế giới đã chứng minh rõ ràng vai trò của việc luyện tập cơ hô hấp và các bài tập thở trong việc nâng cao chức năng phổi và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh:
- Nghiên cứu của Yang và các cộng sự trên 160 bệnh nhân phẫu thuật cắt thùy phổi do ung thư tại Bệnh viện Nhân dân Thiệu Hưng (PMID: 41987624) cho thấy, việc áp dụng bài tập thở chủ động kết hợp luyện tập chánh niệm trước mổ giúp phục hồi thể chất rõ rệt. Khoảng cách đi bộ trong 6 phút (6MWD) của nhóm tập thở đạt 382.10 ± 68.17 mét, cao hơn đáng kể so với nhóm chăm sóc tiêu chuẩn chỉ đạt 356.24 ± 87.46 mét. Đồng thời, tỷ lệ tuân thủ điều trị tốt ở nhóm tập thở đạt tới 67.86%, cao hơn hẳn mức 44.74% của nhóm đối chứng.
- Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp từ 14 nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên đối chứng với tổng cộng 880 bệnh nhân của Lu và các cộng sự (PMID: 40877852) đánh giá tác động của bài tập thở chu phẫu ở bệnh nhân ung thư phổi được phẫu thuật triệt căn. Kết quả cho thấy nhóm thực hiện bài tập thở có sự cải thiện rõ rệt về áp lực hít vào tối đa (MIP) (p = 0.02), dung tích sống gắng sức (FVC) (p = 0.0002) và khoảng cách đi bộ 6 phút (p = 0.03). Đặc biệt, tỷ lệ mắc viêm phổi sau mổ giảm mạnh với tỉ số chênh OR = 0.38 (95% CI: 0.20 - 0.72, p = 0.003) và tỷ lệ biến chứng chung giảm với OR = 0.66 (p = 0.02).
- Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên của Xie và Zhang (PMID: 40939893) thực hiện trên các bệnh nhân sau phẫu thuật nội soi cắt nốt đơn độc ở phổi chỉ ra rằng, việc áp dụng bài tập thở khí công cải biên trong vòng 48 giờ sau mổ giúp giảm thiểu đáng kể tình trạng suy giảm thể tích khí lưu thông (VT), thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1) và thông khí tối đa (MVV) so với nhóm chỉ phục hồi chức năng thông thường (p < 0.05).
- Nghiên cứu của Törnberg và các cộng sự (PMID: 42012216) trên bệnh nhân có hội chứng hậu COVID-19 bị suy giảm cơ hô hấp cho thấy, sau 8 tuần tập luyện cơ hít vào, sức mạnh cơ hít vào tăng trung bình 18% so với nhóm không tập, đồng thời giúp giảm hẳn tần suất ho ở người bệnh.
So sánh giữa điều trị không phẫu thuật và điều trị phẫu thuật
Đối với các bệnh lý về phổi, việc lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc hoàn toàn vào bản chất và giai đoạn của bệnh:
- Điều trị không phẫu thuật (bằng bài tập thở, vật lý trị liệu, thuốc):
- Ưu điểm: không gây đau đớn, không có vết mổ, chi phí thấp và giúp cải thiện dần dần sức bền của cơ hô hấp.
- Nhược điểm: không thể loại bỏ được các tổn thương thực thể như khối u phổi, kén khí lớn, hay tình trạng xơ hóa nghiêm trọng. Phương pháp này đòi hỏi người bệnh phải kiên trì trong thời gian dài mới thấy được hiệu quả.
- Điều trị phẫu thuật:
- Ưu điểm: giải quyết triệt căn và nhanh chóng các tổn thương cấu trúc ở phổi (như cắt bỏ khối u, thắt kén khí tràn khí màng phổi), ngăn ngừa bệnh tiến triển nặng hơn.
- Nhược điểm: đây là phương pháp có xâm lấn, người bệnh phải chịu đau sau mổ, cần thời gian nằm viện theo dõi và có thể đối mặt với một số rủi ro chu phẫu.
Khi nào nên phẫu thuật
Người bệnh suy giảm chức năng phổi cần được can thiệp phẫu thuật trong các trường hợp cụ thể sau:
- Xuất hiện khối u phổi ác tính hoặc u lành tính kích thước lớn gây chèn ép đường thở.
- Bệnh nhân bị tràn khí màng phổi tái phát do vỡ các kén khí lớn ở phổi mà điều trị nội khoa không hiệu quả.
- Tình trạng áp xe phổi hoặc giãn phế quản khu trú bị nhiễm trùng tái đi tái lại nhiều lần, kháng thuốc điều trị.
- Chấn thương ngực nặng gây rách nhu mô phổi, dập phổi tiến triển dẫn đến suy hô hấp cấp không thể bảo tồn.
Những điều cần biết trước khi phẫu thuật
Để cuộc mổ diễn ra an toàn, người bệnh sẽ được đội ngũ y tế tư vấn và chuẩn bị kỹ lưỡng:
- Đánh giá toàn diện chức năng hô hấp thông qua đo hô hấp ký, chụp cắt lớp vi tính (CT Scan) ngực và xét nghiệm khí máu động mạch.
- Hướng dẫn thực hiện các bài tập thở chủ động và sử dụng dụng cụ tập dẫn lưu đường thở trước mổ ít nhất 1 - 2 tuần để làm sạch phổi, tăng cường dự trữ hô hấp.
- Nhịn ăn uống hoàn toàn trước phẫu thuật theo đúng khung giờ quy định của bác sĩ gây mê nhằm tránh nguy cơ trào ngược vào đường thở trong quá trình mổ.
- Khảo sát và kiểm soát tốt các bệnh lý nền đi kèm như tăng huyết áp, đái tháo đường hoặc các bệnh lý tim mạch khác.
Thời gian nằm viện
Thời gian nằm viện sau phẫu thuật lồng ngực phụ thuộc vào tính chất của ca mổ:
- Đối với các phẫu thuật ít xâm lấn như nội soi lồng ngực cắt kén khí hoặc sinh thiết, thời gian nằm viện thường ngắn, người bệnh cần nằm lại ít nhất 1 đêm hoặc từ 2 - 3 ngày để theo dõi ống dẫn lưu màng phổi.
- Đối với các cuộc đại phẫu như cắt thùy phổi hoặc mở ngực hở, thời gian nằm viện có thể kéo dài từ 5 - 7 ngày cho đến khi rút hoàn toàn ống dẫn lưu, toàn trạng ổn định và người bệnh có thể tự đi lại, thực hiện các bài tập thở cơ bản.
Các biến chứng có thể gặp phải
Mặc dù kỹ thuật phẫu thuật hiện nay rất phát triển, phẫu thuật lồng ngực vẫn tiềm ẩn một số biến chứng từ nhẹ đến nặng:
- Rò khí kéo dài: xử trí bằng cách theo dõi ống dẫn lưu màng phổi liên tục, hút áp lực âm phù hợp hoặc can thiệp dính màng phổi nếu cần.
- Xẹp phổi hoặc viêm phổi sau mổ: xử trí bằng cách thúc đẩy người bệnh vận động sớm, thực hiện tích cực các bài tập thở chủ động, ho khạc đờm kết hợp vỗ rung học và dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ (PMID: 40877852).
- Chảy máu trong lồng ngực: xử trí bằng cách theo dõi sát lượng máu qua ống dẫn lưu; trường hợp chảy máu ồ ạt cần phải tiến hành phẫu thuật lại ngay để cầm máu.
- Nhiễm trùng vết mổ hoặc nhiễm trùng khoang màng phổi: xử trí bằng cách thay băng vô khuẩn, dẫn lưu sạch mủ và sử dụng kháng sinh đường tĩnh mạch liều cao.
Kết luận
Các bài tập thở theo chuẩn Bộ Y tế là nền tảng quan trọng giúp phục hồi và nâng cao chức năng phổi cho người bệnh hô hấp. Tuy nhiên, khi tổn thương phổi có chỉ định ngoại khoa, việc phối hợp chặt chẽ giữa phẫu thuật và tập luyện chu phẫu mới mang lại kết quả điều trị tối ưu nhất. Người bệnh không nên tự ý điều trị tại nhà mà cần đến các cơ sở y tế uy tín để được thăm khám, chẩn đoán chính xác và tư vấn phương pháp điều trị phù hợp, an toàn.
Nếu nhận thấy các dấu hiệu suy giảm chức năng hô hấp hoặc cần tư vấn về các bệnh lý lồng ngực, quý bệnh nhân nên đến khám trực tiếp với Bác sĩ Trần Quốc Hoài tại Trung tâm Lồng ngực - Mạch máu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM. Việc thăm khám sớm sẽ giúp xác định chính xác tình trạng bệnh và xây dựng phác đồ điều trị cá thể hóa an toàn. Đội ngũ chuyên gia luôn sẵn sàng đồng hành cùng người bệnh trong suốt quá trình điều trị và phục hồi chức năng phổi.
Tài liệu tham khảo
- Yang L, Chen A, Li L. Effects of Preoperative Mindfulness Training Combined With Active Breathing and Circulation Exercises on Pulmonary Function Recovery in Lung Cancer Patients After Lobectomy. Shaoxing People's Hospital. 2026. PMID: 41987624.
- Lu B, Li X, Jiang H. Effect of radical resection of lung cancer combined with breathing training on lung cancer patients in thoracic surgery: a meta-analysis. PubMed. 2024. PMID: 40877852.
- Xie RQ, Zhang X. Efficacy of Liuzijue Qigong combined with conventional respiratory rehabilitation after thoracoscopic pulmonary nodule resection: A randomized clinical trial. Nanping First Hospital affiliated to Fujian Medical University. 2024. PMID: 40939893.
- Törnberg A, Svensson-Raskh A, Rydwik E, et al. Effect of inspiratory muscle training on inspiratory muscle strength in adults with post-COVID-19 condition and inspiratory muscle weakness: a randomized controlled trial. PubMed. 2026. PMID: 42012216.
Bình luận