Lưu ý quan trọng khi phương pháp xạ trị kết hợp hóa trị u phổi hiệu quả nhất hiện nay U phổi, đặc biệt là ung thư phổi không tế ...
Lưu ý quan trọng khi phương pháp xạ trị kết hợp hóa trị u phổi hiệu quả nhất hiện nay
U phổi, đặc biệt là ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn tiến triển tại chỗ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và chức năng hô hấp của người bệnh. Về mặt sinh lý, khối u phát triển chèn ép đường thở gây ra các triệu chứng mệt mỏi, khó thở dai dẳng, ho ra máu và đau ngực, làm suy giảm trực tiếp khả năng vận động và thể lực. Về mặt tâm lý và xã hội, người bệnh thường phải đối mặt với cảm giác lo âu bợn ngợn, trầm cảm và áp lực tinh thần lớn do quá trình điều trị kéo dài, dẫn đến suy giảm đáng kể chất lượng sống toàn diện. Hiện nay, phương pháp xạ trị kết hợp hóa trị đồng thời (CCRT) được xem là phác đồ chuẩn cho các trường hợp u phổi không thể phẫu thuật cắt bỏ, giúp kiểm soát khối u tại chỗ và giảm nguy cơ di căn xa.

Nghiên cứu y khoa về hiệu quả của xạ trị kết hợp hóa trị u phổi
Các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn đã cung cấp nhiều dữ liệu cụ thể về hiệu quả cũng như độc tính của phương pháp điều trị kết hợp này:
- Nghiên cứu pha 3 của Solange Peters và các cộng sự trên bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn III không thể phẫu thuật (PMID: 42129521) cho thấy, việc sử dụng phác đồ chuẩn xạ trị kết hợp hóa trị đồng thời kết hợp các liệu pháp củng cố sau đó mang lại thời gian theo dõi trung vị 30.5 tháng. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cảnh báo tỷ lệ viêm phổi do bức xạ gia tăng đáng kể khi phối hợp thêm một số thuốc miễn dịch.
- Nghiên cứu tổng quan hệ thống của Joanna Jane Ludbrook và cộng sự (PMID: 39888157) đánh giá phương pháp xạ trị giảm phân liều vừa phải (moderately hypofractionated) trong 4 tuần (liều từ hơn 50 đến 60 Gy với 20 phân liều) kết hợp hóa trị. Kết quả từ hai thử nghiệm ngẫu nhiên và sáu nghiên cứu đoàn hệ cho thấy phác đồ này giúp rút ngắn thời gian điều trị, giảm chi phí và có hiệu quả sinh học khả quan ở những bệnh nhân u phổi lớn tuổi hoặc có nhiều bệnh nền.
- Nghiên cứu dữ liệu thực tế MOOREA tại Trung Quốc trên 379 bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn III không thể phẫu thuật (PMID: 42070217) ghi nhận thời gian sống thêm không tiến triển (PFS) trung vị là 12.6 tháng và tổng thời gian sống thêm (OS) trung vị là 33.3 tháng. Nhóm bệnh nhân được điều trị củng cố bằng miễn dịch sau khi hoàn thành hóa xạ trị có tỷ lệ sống thêm sau 24 tháng đạt 79.3%, cao hơn rõ rệt so với tỷ lệ 66.4% ở nhóm chỉ hóa xạ trị đơn thuần.
- Nghiên cứu POSITION trên 2076 bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn III (PMID: 41760536) chỉ ra rằng có đến 23.0% bệnh nhân không thể hoàn thành toàn bộ liệu trình hóa xạ trị đồng thời và 12.7% bệnh nhân bị tiến triển bệnh ngay trong hoặc trong vòng 42 ngày sau điều trị. Thời gian sống thêm trung vị của nhóm hoàn thành liệu trình mà không tiến triển bệnh đạt 32.4 tháng, trong khi nhóm không hoàn thành chỉ đạt 21.6 tháng.
So sánh giữa điều trị không phẫu thuật và điều trị phẫu thuật
Việc lựa chọn giữa phương pháp điều trị không phẫu thuật (hóa trị kết hợp xạ trị) và điều trị phẫu thuật phụ thuộc vào giai đoạn bệnh, vị trí khối u và thể trạng của bệnh nhân.
Điều trị không phẫu thuật (Hóa xạ trị kết hợp)
- Ưu điểm: áp dụng được cho các khối u giai đoạn tiến triển tại chỗ (giai đoạn III) đã xâm lấn rộng hoặc di căn hạch nhiều vùng mà phẫu thuật không thể can thiệp được, tránh được cuộc đại phẫu ngực.
- Nhược điểm: tỷ lệ kiểm soát bệnh triệt để thấp hơn phẫu thuật nếu ở giai đoạn sớm, người bệnh phải chịu độc tính toàn thân và tại chỗ từ cả hai phương pháp cùng lúc, nguy cơ tái phát tại chỗ hoặc di căn xa vẫn ở mức cao.
Điều trị phẫu thuật (Ngoại khoa)
- Ưu điểm: là phương pháp triệt căn hiệu quả nhất, loại bỏ trực tiếp và hoàn toàn khối u cùng hệ thống hạch vùng, mang lại cơ hội sống thêm lâu dài tốt nhất cho người bệnh.
- Nhược điểm: đây là cuộc phẫu thuật lớn, xâm lấn, đòi hỏi người bệnh phải có chức năng hô hấp và tim mạch tốt, có rủi ro tai biến trong và sau mổ.
Giải pháp can thiệp phẫu thuật u phổi khi phù hợp
Đối với những bệnh nhân u phổi được đánh giá là có khả năng cắt bỏ được hoặc có đáp ứng tốt sau các liệu trình điều trị ban đầu, phẫu thuật luôn là đích đến ưu tiên để tối ưu hóa cơ hội chữa khỏi bệnh.
Khi nào nên phẫu thuật
- U phổi giai đoạn sớm (giai đoạn I, II) và một số trường hợp giai đoạn IIIa chọn lọc (u khu trú, hạch rốn phổi hoặc hạch trung thất đơn vùng có thể nạo vét sạch).
- Khối u phổi giảm kích thước đáng kể (downstaging) sau khi điều trị hóa chất hoặc hóa xạ trị tân bổ trợ, chuyển từ không cắt bỏ được thành cắt bỏ được.
- Phẫu thuật cứu vãn (salvage surgery) đối với các trường hợp u phổi tái phát khu trú sau khi đã điều trị bức xạ và hóa chất trước đó.
Những điều cần biết trước khi phẫu thuật
- Đánh giá chức năng hô hấp thông qua đo hô hấp ký và khả năng khuếch tán khí để đảm bảo phần phổi còn lại sau mổ đủ duy trì sự sống.
- Khảo sát toàn diện hệ tim mạch (siêu âm tim, điện tâm đồ) để kiểm soát các nguy cơ nhồi máu cơ tim hoặc rối loạn nhịp trong mổ.
- Tư vấn về các kỹ thuật mổ: phẫu thuật nội soi lồng ngực ít xâm lấn (VATS) hoặc mổ mở ngực, tùy thuộc vào kích thước và vị trí của khối u.
- Hướng dẫn tập thở với dụng cụ và dinh dưỡng nâng cao thể trạng trước mổ ít nhất 1-2 tuần.
Thời gian nằm viện
- Người bệnh thực hiện phẫu thuật cắt thùy phổi hoặc phân thùy phổi thường có thời gian nằm viện ít nhất 1 đêm tại phòng hồi sức tích cực để theo dõi sát các chỉ số sinh tồn và ống dẫn lưu ngực.
- Tổng thời gian nằm viện trung bình dao động từ 5 đến 7 ngày đối với phẫu thuật ít xâm lấn, và từ 7 đến 10 ngày đối với mổ mở ngực nếu không có biến chứng phát sinh.
Các biến chứng có thể gặp phải và nguyên tắc xử trí
Cả hai phương pháp điều trị đều tiềm ẩn những rủi ro nhất định đòi hỏi sự theo dõi và xử lý y khoa kịp thời:
Biến chứng do hóa xạ trị kết hợp
- Viêm phổi do bức xạ: biểu hiện bằng ho khan, khó thở, sốt nhẹ. Nguyên tắc xử trí cơ bản là sử dụng corticosteroid liều cao đường toàn thân, thở oxy hỗ trợ và dùng kháng sinh nếu có bội nhiễm.
- Viêm thực quản cấp tính: gây nuốt đau, nuốt khó, sụt cân. Nguyên tắc xử trí cơ bản là dùng thuốc giảm đau dạng bôi hoặc súc miệng, truyền dịch nuôi dưỡng nếu người bệnh không thể ăn uống và điều chỉnh chế độ ăn mềm, nguội.
- Hạ bạch cầu và tiểu cầu: tăng nguy cơ nhiễm trùng và xuất huyết. Nguyên tắc xử trí cơ bản là sử dụng thuốc kích bạch cầu, tiêm kháng sinh dự phòng khi có sốt và truyền khối tiểu cầu khi có chỉ định.
Biến chứng sau phẫu thuật u phổi
- Rò khí kéo dài qua ống dẫn lưu: khí thoát ra từ diện cắt phổi không tự b bịt kín sau 5-7 ngày. Nguyên tắc xử trí cơ bản là tiếp tục hút áp lực âm liên tục hoặc chuyển sang hệ thống dẫn lưu van một chiều, nếu kéo dài trên 2 tuần có thể cần nội soi can thiệp hoặc mổ lại khâu diện rò.
- Xẹp phổi và viêm phổi sau mổ: do ứ đọng đờm rãi, đau không dám ho thở. Nguyên tắc xử trí cơ bản là giảm đau tối ưu, thực hiện lý liệu pháp hô hấp tích cực, hút đờm qua nội soi phế quản nếu cần và dùng kháng sinh phổ rộng.
- Chảy máu trong ngực sau mổ: máu chảy ra qua ống dẫn lưu lượng nhiều (>200 mL/giờ trong 3 giờ liên tiếp) kèm mạch nhanh, tụt huyết áp. Nguyên tắc xử trí cơ bản là hồi sức thể tích, truyền máu cấp cứu và chỉ định mổ lại ngay lập tức để tìm và cầm điểm chảy máu.
Kết luận chung
Phương pháp xạ trị kết hợp hóa trị u phổi hiện nay mang lại cơ hội kiểm soát bệnh tối ưu cho những trường hợp không còn chỉ định phẫu thuật ban đầu. Tuy nhiên, do độc tính của phương pháp kết hợp này tương đối cao, việc đánh giá thể trạng, chức năng các cơ quan và cá thể hóa phác đồ điều trị là cực kỳ quan trọng. Đối với các trường hợp có thể can thiệp ngoại khoa, phẫu thuật vẫn là giải pháp mang tính triệt căn cao nhất. Người bệnh cần đến khám trực tiếp tại các cơ sở y tế chuyên khoa sâu để được các bác sĩ kiểm tra, đánh giá chính xác giai đoạn bệnh và tư vấn kế hoạch điều trị toàn diện, an toàn nhất.
Để được tư vấn chuyên sâu về các phương pháp phẫu thuật ít xâm lấn điều trị u phổi cũng như xây dựng phác đồ phối hợp đa mô thức tối ưu, người bệnh có thể đến khám trực tiếp với Bác sĩ Trần Quốc Hoài - Trung tâm Lồng ngực - Mạch máu. Việc thăm khám trực tiếp sẽ giúp đánh giá chính xác chức năng hô hấp và khả năng phẫu thuật của từng trường hợp cụ thể.
Tài liệu tham khảo
- Peters S, Tan DSW, Gerber DE, Urbanic J, Ramalingam S, Yu J, Xing L, Rittmeyer A, Ciuleanu TE, de Menezes J, Kim HR, Rojas C, Syrigos K, Hayashi H, Haridass A, Cortinovis D, Bruno D, Kimmich M, Calles A, Nathani R, Pudussery G, Yang L, De Ruysscher D. Nivolumab plus chemoradiotherapy followed by nivolumab with or without ipilimumab for untreated locally advanced stage III NSCLC: a randomized phase 3 trial. Nature Medicine. 2026. PMID: 42129521.
- Ludbrook JJ, Kumar M, Soon YY, Smith A, Mallesara G, Hau Eric, Hegi-Johnson F, Vinod S. Efficacy and Safety of Four Weeks of Moderately Hypofractionated Chemoradiation for Unresectable, Stage 3 Non-Small Cell Lung Cancer: A Systematic Review. Clinical Oncology. 2026. PMID: 39888157.
- Xing L, Yu J, Meng X, Zhao R, Yang W, Guo Y, Li J, Fan M, Xiao C, Ren Y, Dong L, Lv D, Zhao L, Lin Y, Zhang X, Chen L, Wang Y, Zhang Y, Zang A, Cheng G, Liu A, Liang N, Lou B, Wang J, Fu X, Shi A, Xu N, Liu J, Xiang ZL. Real-World Treatment Patterns and Clinical Outcomes Among Chinese Patients with Stage III NSCLC: The MOOREA Study. Journal of Thoracic Oncology. 2026. PMID: 42070217.
- Mountzios G, Weng JK, Zairi E, Hsieh K, Chander P, Dunlop W, Qiao Y, Wang A, Januszewski A. Characterizing Risk Factors and Outcomes in Patients With Unresectable, Stage III Non-Small-Cell Lung Cancer Who Do Not Complete, or Who Experience Progression During/Within 42 Days of, Concurrent Chemoradiotherapy: The POSITION Study. Clinical Lung Cancer. 2026. PMID: 41760536.
Bình luận