Những điều cần biết về tác dụng phụ của hóa trị u phổi và cách khắc phục tại các bệnh viện tuyến đầu Điều trị u phổi bằng hóa tr...
Những điều cần biết về tác dụng phụ của hóa trị u phổi và cách khắc phục tại các bệnh viện tuyến đầu
Điều trị u phổi bằng hóa trị là một hành trình đầy thử thách, tác động sâu sắc đến cả thể chất lẫn tinh thần của người bệnh. Các hóa chất triệt tiêu tế bào ác tính đồng thời ảnh hưởng đến các tế bào lành, gây ra nhiều hệ lụy cho sức khỏe. Quá trình này không chỉ làm suy giảm chức năng sinh lý cơ thể mà còn khiến người bệnh dễ rơi vào trạng thái mệt mỏi mạn tính, lo âu và cô lập xã hội, từ đó làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống. Tại các bệnh viện tuyến đầu, việc nhận biết sớm và xử trí đúng cách các tác dụng phụ này đóng vai trò quyết định giúp bệnh nhân nâng cao thể trạng, đảm bảo phác đồ điều trị diễn ra liên tục và an toàn.
Các tác dụng phụ phổ biến và những nghiên cứu y khoa thực tế
Hóa trị và các liệu pháp kết hợp có thể gây ra nhiều phản ứng không mong muốn trên nhiều cơ quan khác nhau của cơ thể. Dưới đây là các bằng chứng lâm sàng được ghi nhận qua các nghiên cứu y khoa cụ thể:
- Tổn thương phổi và đường hô hấp: việc kết hợp hóa xạ trị bổ trợ hoặc điều trị tân bổ trợ có thể làm tăng nguy cơ tổn thương nhu mô phổi. Nghiên cứu đa trung tâm AYAME tại Nhật Bản trên 511 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn III không thể phẫu thuật cho thấy có đến 75,0% bệnh nhân xuất hiện biến chứng bệnh phổi kẽ (ILD) sau khi điều trị phẫu thuật kết hợp với liệu pháp miễn dịch hóa chất, với thời gian khởi phát trung bình là 44 ngày (PMID: 42152809). Một nghiên cứu hai trung tâm khác trên 327 bệnh nhân trải qua phẫu thuật lồng ngực ghi nhận tỷ lệ suy hô hấp giảm oxy máu cấp tính sau mổ ở nhóm dùng hóa trị kết hợp miễn dịch tân bổ trợ lên tới 19,8%, cao hơn đáng kể so với mức 8,1% ở nhóm chỉ dùng hóa trị thuần túy (PMID: 42145107).
- Bệnh thần kinh ngoại biên do hóa trị: các thuốc hóa chất nhóm platinum (như cisplatin, carboplatin) thường gây tổn thương dây thần kinh ngoại biên. Biến chứng này làm suy giảm cảm giác, hạn chế khả năng vận động và làm xáo trộn chức năng thần kinh tự chủ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt hàng ngày của người bệnh (PMID: 42144129).
- Độc tính trên hệ tuần hoàn và các cơ quan khác: các phác đồ điều trị hệ thống tích cực có thể dẫn đến nhiều phản ứng nguy hiểm khác. Phân tích từ cơ sở dữ liệu FAERS của FDA trên 123.210 bệnh nhân cho thấy độc tính trên tim và hô hấp có nguy cơ tử vong cao nhất, bên cạnh các biểu hiện viêm ruột, viêm gan trung gian miễn dịch hoặc suy thượng thận (PMID: 42148135). Các phản ứng hiếm gặp như viêm cơ tim độ 3 (PMID: 42148146) hay tình trạng sốt giảm bạch cầu hạt (PMID: 41927134) tuy có tỷ lệ xuất hiện dưới 1% nhưng đều là những độc tính huyết học đe dọa trực tiếp đến tính mạng, đòi hỏi phải dùng kháng sinh phổ rộng và yếu tố kích thích tăng trưởng dòng bạch cầu (G-CSF) kịp thời.
- Phản ứng phụ trên da và mạch máu: ghi nhận lâm sàng cho thấy một số phác đồ kết hợp thuốc nhắm trúng đích hoặc miễn dịch có thể gây tăng huyết áp (27,5%), hội chứng bàn tay - bàn chân (10%) (PMID: 38727837), hoặc gây sưng nề và loét mũi hiếm gặp (PMID: 42148121).
So sánh điều trị không phẫu thuật và điều trị phẫu thuật
Khi đối diện với u phổi, việc lựa chọn giữa điều trị không phẫu thuật và phẫu thuật phụ thuộc rất lớn vào giai đoạn bệnh, loại giải phẫu bệnh và thể trạng của bệnh nhân.
Điều trị không phẫu thuật (Hóa trị, xạ trị, miễn dịch)
- Ưu điểm: phù hợp cho những trường hợp bệnh nhân có khối u ở giai đoạn tiến triển, không còn khả năng can thiệp tại chỗ hoặc thể trạng quá yếu không chịu đựng được cuộc mổ lớn. Phương pháp này giúp kiểm soát sự tiến triển của tế bào ác tính trên toàn cơ thể.
- Nhược điểm: không thể loại bỏ hoàn toàn gốc rễ khối u đối với thể khu trú. Người bệnh phải đối mặt với nhiều tác dụng phụ toàn thân như suy tủy, rụng tóc, chán ăn, độc tính trên gan, thận, thần kinh và tim mạch như đã nêu từ các bằng chứng y khoa.
Điều trị phẫu thuật (Cắt thùy phổi, nạo hạch)
- Ưu điểm: là phương pháp triệt căn mang lại cơ hội khỏi bệnh cao nhất cho bệnh nhân ở giai đoạn sớm. Việc loại bỏ trực tiếp khối u giúp giải phóng nhanh tình trạng chèn ép đường thở và các mạch máu lớn trong lồng ngực.
- Nhược điểm: đây là một cuộc đại phẫu đòi hỏi kỹ thuật cao, có các nguy cơ tai biến trong và sau mổ, đồng thời bệnh nhân cần thời gian phục hồi thể chất lâu hơn.
Khi nào nên phẫu thuật
Bệnh nhân u phổi được cân nhắc chuyển hướng sang điều trị phẫu thuật trong các trường hợp cụ thể sau:
- Khối u ở giai đoạn khu trú (giai đoạn I, II và một số trường hợp giai đoạn IIIa) chưa có căn xa.
- Khối u đáp ứng tốt sau các chu kỳ hóa trị hoặc hóa trị kết hợp miễn dịch tân bổ trợ, thu nhỏ kích thước và khu trú lại giúp tăng khả năng cắt bỏ hoàn toàn (R0) (PMID: 42114951).
- Bệnh nhân có chức năng hô hấp và tim mạch ổn định, đủ điều kiện để trải qua gây mê nội khí quản và cuộc phẫu thuật lồng ngực.
Những điều cần biết trước khi phẫu thuật
Trước khi bước vào phòng mổ, người bệnh sẽ được thực hiện các bước chuẩn bị kỹ lưỡng bao gồm:
- Đánh giá toàn diện chức năng phổi thông qua đo hô hấp ký, chụp cắt lớp vi tính lồng ngực độ phân giải cao để dự báo thể tích phổi còn lại sau cắt bỏ.
- Khám chuyên khoa tim mạch để kiểm soát huyết áp, tình trạng mạch và chức năng co bóp của cơ tim.
- Hướng dẫn bệnh nhân tập thở bằng dụng cụ (spirometer) và các bài tập vận động cơ hô hấp trước mổ nhằm tối ưu hóa thông khí, giảm thiểu nguy cơ xẹp phổi sau phẫu thuật.
- Nhịn ăn uống hoàn toàn trước mổ ít nhất 6 tiếng theo đúng quy trình an toàn gây mê hồi sức.
Thời gian nằm viện
Sau một cuộc phẫu thuật cắt u phổi thông thường, thời gian nằm viện của bệnh nhân dao động khoảng từ 3 đến 7 ngày tùy thuộc vào phương pháp phẫu thuật (mổ nội soi ít xâm lấn hay mổ mở lồng ngực) và tốc độ phục hồi của từng người. Tuy nhiên, đối với mọi trường hợp phẫu thuật lồng ngực có gây mê sâu, bệnh nhân bắt buộc phải theo dõi sát và thời gian nằm viện ít nhất 1 đêm tại phòng hồi sức tích cực để kiểm soát các dấu hiệu sinh tồn trước khi chuyển về phòng bệnh thông thường.
Các biến chứng có thể gặp phải và nguyên tắc xử trí
Phẫu thuật u phổi là kỹ thuật chuyên sâu nên vẫn tiềm ẩn những rủi ro nhất định. Các biến chứng từ nhẹ đến nặng bao gồm:
- Đau vết mổ và hạn chế vận động cánh tay: xử trí bằng cách phối hợp các thuốc giảm đau đa mô thức và hướng dẫn tập vật lý trị liệu sớm ngay từ ngày đầu sau mổ.
- Xẹp phổi hoặc ứ đọng đờm rãi: xử trí bằng cách khuyến khích bệnh nhân ho khạc tích cực, thực hiện vỗ rung long đờm và hỗ trợ hút đờm qua nội khí quản nếu cần thiết.
- Rò khí kéo dài qua ống dẫn lưu ngực: xử trí bằng cách theo dõi sát áp lực hệ thống hút bình dẫn lưu, áp dụng các biện pháp dính màng phổi hoặc can thiệp khâu lại diện cắt phổi nếu rò khí lượng lớn không tự bít.
- Nhiễm trùng vết mổ hoặc viêm phổi: xử trí bằng cách sử dụng kháng sinh phổ rộng theo kháng sinh đồ, kết hợp chăm sóc, thay băng vết mổ vô khuẩn hàng ngày.
- Chảy máu trong lồng ngực hoặc suy hô hấp cấp: xử trí bằng cách truyền máu cấp cứu, thở máy hỗ trợ và mở lại ngực kiểm tra cầm máu ngay lập tức nếu có chỉ định.
Kết luận
Việc nắm rõ các tác dụng phụ của hóa trị cũng như các tai biến có thể gặp phải trong quá trình điều trị u phổi giúp người bệnh chủ động hơn trên hành trình chiến đấu với bệnh tật. Mỗi phương pháp điều trị, dù là không phẫu thuật hay phẫu thuật, đều có những ưu nhược điểm riêng biệt và cần được cá thể hóa tối đa. Lựa chọn đúng thời điểm và đúng phương pháp điều trị phẫu thuật khi có chỉ định sẽ mang lại hiệu quả tối ưu cho bệnh nhân. Do đó, người bệnh nên đến khám trực tiếp tại các cơ sở y tế chuyên khoa sâu để được các bác sĩ thăm khám, đánh giá toàn diện và tư vấn phác đồ điều trị chính xác, an toàn nhất.

Để được tư vấn và xây dựng phác đồ điều trị cá thể hóa an toàn, hiệu quả, quý bệnh nhân có thể đặt lịch hẹn khám trực tiếp với Bác sĩ Trần Quốc Hoài - Trung tâm Lồng ngực - Mạch máu. Tại đây, người bệnh sẽ được kiểm tra toàn diện, đánh giá chính xác các tổn thương nhu mô phổi và chức năng hô hấp. Đội ngũ chuyên gia luôn sẵn sàng đồng hành cùng người bệnh để kiểm soát tối ưu các tác dụng phụ và đưa ra giải pháp phẫu thuật phù hợp nhất.
Tài Tài liệu tham khảo
- Yamamoto N, Kenmotsu H, Ninomiya K, et al. Interstitial Lung Disease in Patients With Unresectable Stage III NSCLC Treated With Chemoradiotherapy Followed by Durvalumab in Japan: Analysis From the Multicenter Prospective AYAME Study. J Thorac Oncol. 2026. PMID: 42152809.
- Tan S, Sun Y, Peng Y, et al. Neoadjuvant immunochemotherapy and postoperative acute hypoxemic respiratory failure in thoracic surgery: a multicentre cohort study. Interact CardioVasc Thorac Surg. 2026. PMID: 42145107.
- Kumaree KK, Mohd Jaya FN, Fong Z, et al. Chemotherapy-induced peripheral neuropathy: Mechanisms of toxicity and potential natural compounds-based therapeutics. Phytomedicine. 2026. PMID: 42144129.
- Qu C, Wang X. Comprehensive safety analysis of the clinical spectrum of adverse events associated with immune checkpoint inhibitors based on FAERS. Front Immunol. 2026. PMID: 42148135.
- Ren S, Xiong A, Yu J, et al. Camrelizumab plus famitinib in previously chemo-immunotherapy treated patients with advanced NSCLC: results from an open-label multicenter phase 2 basket study. J Immunother Cancer. 2024. PMID: 38727837.
- Fu F, Wu H, Deng C, et al. Simplified perioperative serplulimab and chemotherapy for resectable squamous NSCLC: a phase II trial with biomarker analysis. BMC Cancer. 2026. PMID: 42114951.
- Zhang QQ, Luo XX, Chen H, et al. Case Report: Long-term survival in advanced PD-L1-high squamous cell lung cancer following severe immune-related cardiotoxicity. Front Oncol. 2026. PMID: 42148146.
- Yang J, Du X, Liu H, et al. Case Report: Nasal swelling and ulceration as a unique immune-related cutaneous adverse event of atezolizumab in small cell lung cancer. Front Immunol. 2026. PMID: 42148121.
- Newman E, Tahir F, Htet S, et al. Febrile neutropenia in a patient with non-small cell lung cancer treated with nivolumab. BMJ Case Rep. 2025. PMID: 41927134.
Bình luận