Những điều cần biết về tầm soát u phổi bằng CT liều thấp được bác sĩ khuyên dùng Ung thư phổi là một trong những nguyên nhân hàn...
Những điều cần biết về tầm soát u phổi bằng CT liều thấp được bác sĩ khuyên dùng
Ung thư phổi là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới, thường do bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn muộn khi các triệu chứng đã biểu hiện rõ ràng. Việc phát hiện sớm các khối u phổi có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả điều trị và cơ hội sống sót của người bệnh. Phương pháp chụp cắt lớp vi tính liều thấp (LDCT) hiện là công cụ hiệu quả nhất được các bác sĩ khuyên dùng để tầm soát và phát hiện sớm các tổn thương này, giúp can thiệp kịp thời trước khi bệnh tiến triển ác tính.
Tác động của bệnh lý u phổi đến chất lượng cuộc sống
Sự xuất hiện của u phổi, dù là lành tính hay ác tính, đều gây ra những ảnh hưởng sâu sắc đến sức khỏe toàn diện của người bệnh:
- Ảnh hưởng sinh lý: các khối u khi tăng kích thước có thể chèn ép đường thở, nhu mô phổi và các mạch máu lớn. Điều này gây ra các triệu chứng như ho kéo dài, ho ra máu, đau ngực và khó thở. Khi chức năng hô hấp suy giảm, khả năng gắng sức của cơ thể giảm mạnh, khiến người bệnh gặp khó khăn ngay cả trong các hoạt động sinh hoạt thường ngày.
- Tác động tâm lý: quá trình chờ đợi kết quả chẩn đoán, nỗi sợ hãi về bệnh ung thư và những lo lắng về nguy cơ phẫu thuật luôn tạo ra áp lực tâm lý cực kỳ lớn. Người bệnh dễ rơi vào trạng thái căng thẳng mạn tính, rối loạn lo âu hoặc trầm cảm.
- Hệ lụy xã hội: việc phải thường xuyên lui tới bệnh viện để theo dõi hoặc điều trị làm gián đoạn công việc, giảm khả năng lao động và tạo ra gánh nặng tài chính lớn cho gia đình. Mối quan hệ xã hội của người bệnh cũng bị thu hẹp do thể trạng suy nhược và tinh thần sa sút.
Các nghiên cứu y khoa về hiệu quả của tầm soát u phổi bằng CT liều thấp
Hiệu quả và tính ứng dụng của phương pháp LDCT trong tầm soát u phổi đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu quy mô lớn trên thế giới:
- Giảm tỷ lệ tử vong và tăng tỷ lệ sống sót: một nghiên cứu hồi cứu tại trung tâm y tế học thuật từ năm 2015 đến năm 2021 (PMID: 42107675) theo dõi 141 cá nhân mắc ung thư phổi cho thấy 78,7% bệnh nhân được phát hiện nhờ tầm soát định kỳ. Giai đoạn I là phổ biến nhất với tỷ lệ 49,6%, giúp nâng tỷ lệ sống sót sau 5 năm ước tính lên mức 53,4%. Đồng thời, nghiên cứu khẳng định các trường hợp phát hiện qua tầm soát có tỷ lệ tử vong thấp hơn rõ rệt so với nhóm phát hiện bệnh do có triệu chứng.
- Phát hiện các bất thường kèm theo: quá trình chụp LDCT không chỉ tìm kiếm u phổi mà còn phát hiện các tổn thương mô kẽ phổi (ILAs). Nghiên cứu đơn trung tâm tại Ý trên 500 người tham gia tầm soát (PMID: 42122926) ghi nhận tỷ lệ lưu hành của ILAs là 6,8%. Một nghiên cứu khác trên 2.031 người tại Hàn Quốc (PMID: 42059964) cho thấy ILAs xuất hiện ở 4,1% mẫu và có mối liên hệ mật thiết với tình trạng vôi hóa động mạch vành (chiếm 74,7% ở nhóm có ILAs so với 48,1% ở nhóm không có ILAs), giúp cảnh báo sớm nguy cơ xơ vữa mạch máu subclinical.
- Đánh giá tiến triển của các comorbidity: dữ liệu theo dõi dài hạn lên đến 18 năm trên 256 người tham gia thuộc chương trình tầm soát tại New York (PMID: 41933610) chỉ ra rằng sự tiến triển của bệnh khí phế thũng trung tâm tiểu thùy (CLE) liên quan mạnh mẽ đến việc tăng mức độ vôi hóa động mạch vành với tỷ số chênh OR là 3,32, trong khi bệnh khí phế thũng cạnh vách (PSE) không cho thấy mối liên hệ này.
- Đánh giá gánh nặng bệnh tật thực tế: nghiên cứu trên dữ liệu của 31.795 bệnh nhân thuộc dự án PLuS từ năm 2016 đến năm 2021 (PMID: 39982715) so với thử nghiệm lâm sàng NLST cho thấy người bệnh trong thực tế lớn tuổi hơn và có nhiều bệnh nền phức tạp hơn: tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là 32,7% so với 17,5%; tiểu đường là 24,6% so với 9,7%; bệnh tim là 15,9% so với 12,9%. Điều này đòi hỏi bác sĩ phải đánh giá toàn diện cá thể trước khi đưa ra hướng xử trí.

So sánh phương pháp điều trị không phẫu thuật và điều trị phẫu thuật
Khi phát hiện u phổi thông qua tầm soát LDCT, việc lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc vào tính chất lành tính hay ác tính, kích thước, giai đoạn bệnh và tổng trạng của bệnh nhân.
Điều trị không phẫu thuật
Phương pháp này bao gồm việc theo dõi định kỳ bằng hình ảnh (đối với u lành tính hoặc nốt đặc nhỏ), hoặc áp dụng xạ trị định vị thân (SABR), hóa trị, liệu pháp trúng đích (đối với u ác tính không thể mổ).
- Ưu điểm: không tổn thương cấu trúc thành ngực, không mất máu, phù hợp cho bệnh nhân lớn tuổi hoặc có chức năng hô hấp quá kém không chịu đựng được cuộc mê.
- Nhược điểm: không lấy được toàn bộ khối u để làm giải phẫu bệnh đại thể, nguy cơ bỏ sót tế bào ung thư nếu chỉ theo dõi. Đối với u ác tính được điều trị bằng SABR, nghiên cứu trên 190 bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn I (PMID: 41192094) cho thấy dù tỷ lệ sống sót do ung thư đặc hiệu là tương đương giữa phẫu thuật và SABR (HR = 1,19), nhưng tỷ lệ tử vong toàn bộ do các nguyên nhân không phải ung thư ở nhóm SABR lại cao hơn rõ rệt (29,3% so với 6,8% ở nhóm phẫu thuật), do nhóm SABR thường có nhiều bệnh nền nặng từ trước.
Điều trị phẫu thuật
Đây là phương pháp cắt bỏ phân thùy phổi, thùy phổi chứa khối u kèm theo nạo vét hạch vùng, thường được thực hiện qua nội soi lồng ngực ít xâm lấn (VATS).
- Ưu điểm: giải quyết triệt để khối u, cung cấp bệnh phẩm chính xác nhất để chẩn đoán giai đoạn bệnh, mang lại cơ hội khỏi bệnh hoàn toàn ở giai đoạn sớm.
- Nhược điểm: là một cuộc can thiệp có tính chất xâm lấn, đòi hỏi gây mê nội khí quản và có các nguy cơ tai biến phẫu thuật nhất định.
Khi nào nên phẫu thuật u phổi
Bác sĩ sẽ đưa ra chỉ định can thiệp ngoại khoa trong các trường hợp cụ thể sau:
- Khối u có đặc điểm hình ảnh nghi ngờ ác tính cao trên kết quả LDCT (bờ không đều, có dấu hiệu co kéo màng phổi, kích thước tăng nhanh trong các lần chụp kiểm tra).
- Kết quả sinh thiết bằng kim hoặc nội soi phế quản khẳng định là tổn thương ung thư phổi tế bào nhỏ hoặc không tế bào nhỏ ở giai đoạn còn khu trú (giai đoạn I, II và một số trường hợp IIIA).
- Khối u lành tính nhưng có kích thước lớn gây chèn ép cơ học vào phế quản, mạch máu, hoặc gây biến chứng ho ra máu dai dẳng, viêm phổi tái phát nhiều lần ở một vùng phổi.
Những điều cần biết trước khi phẫu thuật
Trước khi bước vào phòng mổ, người bệnh cần được chuẩn bị và tư vấn kỹ lưỡng để đảm bảo an toàn tối đa cho cuộc phẫu thuật:
- Đánh giá chức năng hô hấp: thực hiện hô hấp ký và đo khả năng khuếch tán khí qua màng phế nang mao mạch nhằm đảm bảo phần phổi còn lại sau khi cắt bỏ vẫn đủ duy trì cuộc sống bình thường cho bệnh nhân.
- Tầm soát bệnh lý tim mạch: kiểm tra điện tâm đồ, siêu âm tim và các yếu tố nguy cơ mạch vành để kiểm soát tối mổ nguy cơ nhồi máu cơ tim hoặc rối loạn nhịp trong quá trình gây mê.
- Ngừng hút thuốc lá: bệnh nhân bắt buộc phải ngừng hút thuốc lá hoàn toàn ít nhất từ 2 đến 4 tuần trước mổ để giảm lượng đờm dãi, hạn chế nguy cơ xẹp phổi và nhiễm trùng sau mổ.
- Chuẩn bị tâm lý và dinh dưỡng: nâng cao thể trạng bằng chế độ ăn giàu đạm, tập các bài tập thở bằng dụng cụ chuyên dụng (incentive spirometer) và giải tỏa lo âu thông qua sự tư vấn trực tiếp từ phẫu thuật viên và bác sĩ gây mê.
Thời gian nằm viện
Đối với các phẫu thuật cắt u phổi hiện đại áp dụng kỹ thuật nội soi ít xâm lấn, thời gian nằm viện đã được rút ngắn đáng kể:
- Bệnh nhân cần nằm viện theo dõi và điều trị thường kéo dài từ 3 đến 5 đêm. Thời gian nằm viện bắt buộc ít nhất là 1 đêm tại phòng hồi sức tích cực sau mổ để theo dõi sát các dấu hiệu sinh tồn, kiểm soát đau và đảm bảo hệ thống dẫn lưu lồng ngực hoạt động tốt.
- Người bệnh sẽ được khuyến khích vận động sớm, ngồi dậy và tập đi lại ngay vào ngày đầu tiên sau mổ để kích thích phổi nở tốt và phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu.
Các biến chứng có thể gặp phải và nguyên tắc xử trí
Phẫu thuật lồng ngực là kỹ thuật chuyên sâu, đòi hỏi kiểm soát tốt các biến chứng từ nhẹ đến nặng:
- Rò khí kéo dài (qua ống dẫn lưu quá 5 ngày): là biến chứng tương đối phổ biến do nhu mô phổi bị tổn thương hoặc rách nhỏ trong quá trình bóc tách u. Nguyên tắc xử trí cơ bản là tiếp tục duy trì hút áp lực âm nhẹ hoặc dẫn lưu tự nhiên, kết hợp hướng dẫn bệnh nhân tập thở sâu để phổi nở ra áp sát vào thành ngực, giúp lỗ rò tự bít. Nếu rò khí lượng lớn không giảm sau nhiều ngày, bác sĩ có thể cân nhắc nội soi can thiệp hoặc vá lại bằng keo sinh học.
- Xẹp phổi và viêm phổi sau mổ: xảy ra do người bệnh đau không dám ho khạc, dẫn đến ứ đọng đờm dãi gây tắc nghẽn phế quản. Nguyên tắc xử trí cơ bản bao gồm kiểm soát đau tối ưu bằng giảm đau màng cứng hoặc truyền tĩnh mạch, thực hiện vật lý trị liệu hô hấp tích cực, hút đờm qua nội soi phế quản nếu cần và sử dụng kháng sinh phổ rộng theo kháng sinh đồ.
- Chảy máu trong lồng ngực: xuất phát từ các mạch máu nhu mô hoặc mạch máu thành ngực sau khi hết tác dụng của thuốc co mạch. Nguyên tắc xử trí cơ bản là theo dõi sát lượng máu qua ống dẫn lưu và các chỉ số huyết động (huyết áp, mạch, huyết sắc tố). Nếu chảy máu đại thể hoặc huyết động không ổn định, bệnh nhân sẽ được chỉ định phẫu thuật lại ngay lập tức để tìm và cầm máu tổn thương.
- Nhiễm trùng vết mổ hoặc nhiễm trùng khoang màng ngực (mủ màng phổi): do vi khuẩn xâm nhập trong hoặc sau quá trình phẫu thuật. Nguyên tắc xử trí cơ bản là mở rộng vết mổ để làm sạch, dẫn lưu mủ khoang màng phổi triệt để, rửa màng phổi hằng ngày kết hợp dùng kháng sinh đường tĩnh mạch liều cao.
Kết luận
Tầm soát u phổi bằng kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính liều thấp (LDCT) là giải pháp y học tiên tiến, giúp phát hiện sớm các tổn thương nốt và khối u khi chưa có biểu hiện lâm sàng, từ đó nâng cao đáng kể tỷ lệ điều trị thành công. Khi có chỉ định can thiệp, phẫu thuật nội soi ít xâm lấn là phương pháp điều trị triệt căn mang lại hiệu quả tối ưu cho người bệnh. Tuy nhiên, việc lựa chọn giải pháp điều trị cần được cân nhắc kỹ lưỡng dựa trên tổng trạng và sự phối hợp đa chuyên khoa. Người bệnh nên đến khám trực tiếp tại các cơ sở y tế uy tín để được các chuyên gia tư vấn phẫu thuật, lập kế hoạch chuẩn bị trước mổ chu đáo nhằm hạn chế tối đa các biến chứng và đảm bảo an toàn tuyệt đối cho sức khỏe.
Để đặt lịch khám, tầm soát u phổi và tư vấn các bệnh lý đường hô hấp, lồng ngực, quý bệnh nhân vui lòng liên hệ trực tiếp với Bác sĩ Trần Quốc Hoài - Trung tâm Lồng ngực - Mạch máu, Bệnh viện đa khoa Tâm Anh TP.HCM. Việc thăm khám trực tiếp sẽ giúp xác định chính xác tình trạng tổn thương và đưa ra phác đồ điều trị an toàn nhất.
Tài liệu tham khảo
- LeeVan E, Pinsky P. Subsequent risk of lung cancer in patients with positive low-dose CT screens and initial negative lung biopsy. Lung Cancer. 2026. PMID: 42139751.
- Cozzi D, Giannessi C, Gozzi L, et al. Prevalence of Interstitial Lung Abnormalities (ILAs) in Italian Lung Cancer Screening Programs: A Monocentric Study. Radiol Med. 2026. PMID: 42122926.
- Harowicz MR, Chai J, Thomas S, et al. Survival in patients diagnosed with lung cancer after low-dose CT screening. J Thorac Oncol. 2026. PMID: 42107675.
- Kim YN, You S, Kim Y, et al. Clinical implications of coronary artery calcification in lung cancer screening populations with interstitial lung abnormalities: a retrospective cohort study. Eur Radiol. 2026. PMID: 42059964.
- González J, Yip R, Zhang J, et al. Linking Lungs and Heart: Centrilobular Emphysema Progression Predicts Coronary Artery Calcification Progression During 18 Years of Follow-Up. Chest. 2026. PMID: 41933610.
- Bailey HR, Tam HZ, Vulkan D, et al. Clinical characteristics and outcomes in participants with screen-detected clinical stage I lung cancer in the Yorkshire lung screening trial: A comparison of surgery versus stereotactic ablative radiotherapy. Lung Cancer. 2026. PMID: 41192094.
- Braithwaite D, Karanth S, Slatore CG, et al. Burden of Comorbid Conditions Among Individuals Screened for Lung Cancer. JAMA Network Open. 2026. PMID: 39982715.
Bình luận