Tổng quan y khoa về các bài tập thở cải thiện chức năng phổi được bác sĩ khuyên dùng Các bệnh lý về đường hô hấp như bệnh phổi t...
Tổng quan y khoa về các bài tập thở cải thiện chức năng phổi được bác sĩ khuyên dùng
Các bệnh lý về đường hô hấp như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), hen suyễn, hay di chứng sau phẫu thuật lồng ngực và nhiễm trùng phổi đều gây suy giảm chức năng hô hấp nghiêm trọng. Tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến sinh lý khi làm giảm lượng oxy cung cấp cho mô, gây khó thở, mệt mỏi kéo dài. Về mặt tâm lý và xã hội, người bệnh dễ rơi vào trạng thái lo âu, trầm cảm do hạn chế khả năng vận động, cô lập bản thân và giảm hiệu suất làm việc hằng ngày. Để cải thiện tình trạng này, việc phối hợp các bài tập thở hoặc can thiệp phẫu thuật khi có chỉ định là vô cùng cần thiết nhằm phục hồi thể chất và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Hiệu quả của các bài tập thở thông qua các nghiên cứu y khoa
Nhiều nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh hiệu quả của các bài tập thở trong việc phục hồi chức năng phổi, giảm triệu chứng khó thở và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
- Nghiên cứu của Zhenghao Yu và cộng sự dựa trên 7 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng với tổng cộng 1.171 bệnh nhân COPD (PMID: 41659952). Kết quả phân tích cho thấy việc bổ sung bài tập cơ hô hấp vào phác đồ chuẩn giúp giảm đáng kể thang điểm khó thở mMRC và cải thiện chất lượng cuộc sống theo thang điểm SGRQ. Đồng thời, dung tích sống gắng sức (FVC) tăng trung bình 0,37 lít và tỷ lệ FEV1/FVC tăng 1,84%, chứng minh hiệu quả phục hồi cơ học của phổi.
- Nghiên cứu tổng quan hệ thống của Shuqi Yao và các đồng nghiệp trên 25 thử nghiệm lâm sàng với 679 bệnh nhân chấn thương tủy sống (PMID: 41333296). Số liệu cho thấy tập luyện cơ hô hấp giúp cải thiện đáng kể các chỉ số: thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1), dung tích sống gắng sức (FVC), áp lực hít vào tối đa (MIP), áp lực thở ra tối đa (MEP) và thông khí phút tối đa (MVV) so với nhóm chỉ phục hồi chức năng thông thường.
- Nghiên cứu của Luping Yang và cộng sự thực hiện trên 160 bệnh nhân ung thư phổi trải qua phẫu thuật cắt thùy phổi tại Bệnh viện Nhân dân Thiệu Hưng (PMID: 41987624). Nhóm bệnh nhân được tập huấn chánh niệm kết hợp bài tập thở tích cực trước mổ có điểm lo âu, trầm cảm giảm xuống rõ rệt, chỉ còn ở mức 2,00 điểm so với nhóm chứng. Quãng đường đi bộ trong 6 phút (6MWD) sau mổ ở nhóm này đạt 382,10 mét, cao hơn đáng kể so với mức 356,24 mét ở nhóm chứng, đồng thời khả năng tuân thủ điều trị sau phẫu thuật tăng lên đạt 67,86%.
- Một phân tích gộp khác của Fauzi Ashra và cộng sự trên 12 nghiên cứu với 596 bệnh nhân sau nhiễm COVID-19 (PMID: 36945127). Kết quả ghi nhận phục hồi chức năng hô hấp giúp tăng chỉ số FEV1 lên 1,14, FVC tăng 0,98, tổng dung tích phổi (TLC) tăng 0,83 và khoảng cách đi bộ 6 phút tăng 1,56. Nghiên cứu khuyến nghị chương trình tập luyện nên kéo dài trên 6 tuần với tần suất tối thiểu 3 lần mỗi tuần để đạt hiệu quả tối ưu.
So sánh giữa điều trị không phẫu thuật và điều trị phẫu thuật
Đối với các tổn thương thực thể ở phổi, việc lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc vào mức độ bệnh và khả năng đáp ứng của từng bệnh nhân.
Điều trị không phẫu thuật bằng bài tập thở
- Ưu điểm: phương pháp này có độ an toàn cao, không xâm lấn, chi phí thấp và người bệnh có thể dễ dàng thực hiện tại nhà sau khi được hướng dẫn. Bài tập thở giúp tăng cường sức mạnh cơ hoành, cơ liên sườn và tối ưu hóa lượng khí lưu thông.
- Nhược điểm: điều trị không phẫu thuật không thể giải quyết được các tổn thương thực thể nghiêm trọng như khối u phổi, kén khí lớn phá hủy mô phổi, hoặc hẹp đường thở do chèn ép. Phương pháp đòi hỏi người bệnh phải kiên trì tập luyện trong thời gian dài mới thấy được hiệu quả.
Điều trị phẫu thuật
- Ưu điểm: loại bỏ trực tiếp và triệt để các căn nguyên gây bệnh như khối u phế quản, thùy phổi bị tổn thương mất chức năng hoặc các kén khí có nguy cơ vỡ gây tràn khí màng phổi. Phẫu thuật giúp giải phóng thể tích lồng ngực, tạo điều kiện cho các vùng phổi lành giãn nở tốt hơn.
- Nhược điểm: đây là phương pháp có xâm lấn, chi phí điều trị cao và tiềm ẩn các rủi ro liên quan đến gây mê cũng như các biến chứng trong và sau mổ.
Khi nào nên phẫu thuật và quy trình điều trị
Khi nào nên phẫu thuật
Bệnh nhân được chỉ định can thiệp phẫu thuật lồng ngực trong các trường hợp cụ thể sau:
- Bệnh nhân u phổi lành tính hoặc ác tính có chỉ định cắt thùy phổi hoặc cắt một phân thùy phổi.
- Bệnh nhân có kén khí phổi lớn (bệnh bóng khí phổi) chiếm hơn 30% thể tích bên phổi tổn thương gây chèn ép nhu mô phổi lành xung quanh hoặc kén khí đã có biến chứng vỡ gây tràn khí màng phổi tái phát.
- Giãn phế quản khu trú ở một thùy phổi điều trị nội khoa thất bại, gây ho ra máu dai dẳng hoặc nhiễm trùng tái phát nhiều lần.
Những điều cần biết trước khi phẫu thuật
- Bệnh nhân được đánh giá toàn diện chức năng hô hấp thông qua đo hô hấp ký, thể tích ký thân và khả năng khuếch tán khí qua màng phế nang mao mạch (DLCO).
- Đánh giá chức năng tim mạch, thực hiện các xét nghiệm máu chuyên sâu và chẩn đoán hình ảnh kỹ thuật cao như chụp cắt lớp vi tính (CT scan) lồng ngực.
- Bác sĩ sẽ hướng dẫn chi tiết các bài tập thở bằng dụng cụ (như phế dung kế khuyến khích) trước mổ ít nhất 1 đến 2 tuần nhằm tăng cường dự trữ hô hấp, giảm thiểu nguy cơ xẹp phổi sau phẫu thuật.
Thời gian nằm viện
- Đối với các phẫu thuật nội soi lồng ngực ít xâm lấn (VATS) như cắt kén khí hoặc cắt phân thùy phổi, thời gian nằm viện trung bình kéo dài từ 3 đến 5 đêm. Sau khi rút ống dẫn lưu màng phổi và phổi giãn nở tốt trên phim X-quang, bệnh nhân có thể xuất viện và tiếp tục tập phục hồi chức năng tại nhà.
Các biến chứng có thể gặp phải sau phẫu thuật và nguyên tắc xử trí
Sau phẫu thuật lồng ngực, bệnh nhân có thể đối mặt với một số biến chứng từ nhẹ đến nặng. Việc phát hiện sớm và xử trí đúng nguyên tắc đóng vai trò quyết định đến sự phục hồi của phổi.
- Rò khí kéo dài: rò khí từ nhu mô phổi qua hệ thống dẫn lưu màng phổi kéo dài trên 5 ngày. Nguyên tắc xử trí là tiếp tục hút áp lực âm thấp liên tục hoặc theo dõi ống dẫn lưu tĩnh, hướng dẫn bệnh nhân tập thở sâu và ho bài xuất đờm để phổi áp sát vào thành ngực. Nếu rò khí lượng lớn không tự bít sau 1 đến 2 tuần, bác sĩ có thể chỉ định can thiệp lại hoặc bơm dính màng phổi.
- Xẹp phổi do ứ đọng đờm rãi: nhu mô phổi không giãn nở được do cục đờm đặc bít tắc phế quản. Nguyên tắc xử trí là tăng cường giảm đau sau mổ để bệnh nhân có thể ho khạc, áp dụng phương pháp vỗ rung lồng ngực, khuyến khích người bệnh đứng dậy vận động sớm. Trường hợp xẹp phổi nặng không cải thiện, bác sĩ sẽ tiến hành nội soi phế quản ống mềm để hút sạch đờm bít tắc.
- Tràn mủ màng phổi hoặc nhiễm trùng vết mổ: tình trạng nhiễm trùng khoang màng phổi hoặc nhiễm khuẩn tại vị trí rạch da. Nguyên tắc xử trí là sử dụng kháng sinh phổ rộng theo kháng sinh đồ, đảm bảo dẫn lưu triệt để mủ trong khoang màng phổi bằng ống dẫn lưu hoặc phẫu thuật làm sạch khoang màng phổi qua nội soi khi có chỉ định. Vết mổ nhiễm trùng cần được thay băng, rửa sạch và cắt lọc mô hoại tử hằng ngày.
Kết luận
Các bài tập thở đóng vai trò nền tảng trong việc nâng cao và phục hồi chức năng phổi cho bệnh nhân mắc bệnh lý hô hấp mãn tính hoặc người bệnh trong giai đoạn perioperative (quanh phẫu thuật). Tuy nhiên, đối với các tổn thương thực thể nghiêm trọng, phẫu thuật mới là giải pháp triệt để và mang lại hiệu quả điều trị tối ưu. Việc lựa chọn phương pháp điều trị cần dựa trên sự đánh giá kỹ lưỡng mang tính cá thể hóa từ các chuyên gia y tế. Người bệnh không nên tự ý áp dụng các phác đồ chưa qua kiểm chứng mà cần đến khám trực tiếp tại các cơ sở y tế chuyên khoa để được tư vấn chính xác, an toàn, tránh những biến chứng đáng tiếc có thể xảy ra.
Để được tư vấn chuyên sâu về các bệnh lý hô hấp, các bài tập phục hồi chức năng phổi cũng như các phương pháp phẫu thuật lồng ngực ít xâm lấn tiên tiến nhất, quý bệnh nhân có thể đến khám trực tiếp với Bác sĩ Trần Quốc Hoài - Trung tâm Lồng ngực - Mạch máu. Việc thăm khám sớm sẽ giúp xác định chính xác tình trạng tổn thương nhu mô phổi, từ đó xây dựng phác đồ điều trị toàn diện và an toàn nhất cho từng trường hợp.
Tài liệu tham khảo
- Zhenghao Yu, Hui Huang, Si Fang, Li Zhang. The Effectiveness of Respiratory Muscle Training on the Duration and Severity of Respiratory Symptoms in Patients With Chronic Obstructive Pulmonary Disease: A Systematic Review and Meta-Analysis. The Physical Therapy Evidence Database. PMID: 41659952.
- Shuqi Yao, Haozhe Guo, Fuhai Ma, Aiping Chi. Effectiveness of respiratory muscle training on pulmonary function recovery in patients with spinal cord injury: a systematic review and meta-analysis. Cochrane Database of Systematic Reviews. PMID: 41333296.
- Luping Yang, Aixia Chen, Lan Li. Effects of Preoperative Mindfulness Training Combined With Active Breathing and Circulation Exercises on Pulmonary Function Recovery in Lung Cancer Patients After Lobectomy. Journal of Cardiothoracic Surgery. PMID: 41987624.
- Fauzi Ashra, Hsiu-Ju Jen, Doresses Liu, Tso-Ying Lee, Li-Chung Pien, Ruey Chen, Hui-Chen Lin, Kuei-Ru Chou. Effectiveness of respiratory rehabilitation in patients with COVID-19: A meta-analysis. International Journal of Nursing Studies. PMID: 36945127.
Bình luận