Tổng quan y khoa về chế độ dinh dưỡng phục hồi sau điều trị u phổi theo chuẩn Bộ Y tế Sự sụt giảm thể chất sau phẫu thuật u phổi...
Tổng quan y khoa về chế độ dinh dưỡng phục hồi sau điều trị u phổi theo chuẩn Bộ Y tế
Sự sụt giảm thể chất sau phẫu thuật u phổi hoặc các liệu pháp bổ trợ như hóa trị, xạ trị, và miễn dịch gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến sinh lý, tâm lý và xã hội của người bệnh. Về mặt sinh lý, cơ thể rơi vào trạng thái dị hóa, suy giảm chức năng hô hấp và mất khối cơ do khối u giải phóng các cytokine gây viêm. Về mặt tâm lý và xã hội, cảm giác mệt mỏi kéo dài, chán ăn và lo âu khiến người bệnh cô lập bản thân, giảm khả năng tự sinh hoạt và suy giảm chất lượng cuộc sống nghiêm trọng (PMID: 42139296). Việc xây dựng một chế độ dinh dưỡng khoa học kết hợp vận động phục hồi sớm là yếu tố then chốt giúp người bệnh nhanh chóng lấy lại thể trạng.
Các nghiên cứu y khoa về dinh dưỡng và phục hồi sau điều trị u phổi
Các bằng chứng lâm sàng hiện nay đều nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc can thiệp dinh dưỡng sớm và cá thể hóa cho người bệnh u phổi:
- Nghiên cứu NEXTAC-TWO (PMID: 31151425): thử nghiệm lâm sàng pha II ngẫu nhiên trên 130 bệnh nhân lớn tuổi bị ung thư phổi không tế bào nhỏ tiến triển hoặc ung thư tuyến tụy cho thấy, chương trình can thiệp đa thành phần gồm tư vấn dinh dưỡng, bổ sung acid amin chuỗi nhánh (BCAA) kết hợp tập luyện tại nhà giúp duy trì thể trạng, cải thiện tình trạng suy mòn do ung thư và kéo dài thời gian sống không tàn phế.
- Nghiên cứu OPRAH (PMID: 38008734, PMID: 41331231, PMID: 39901855): theo dõi quá trình phục hồi sau mổ của bệnh nhân ung thư phổi thông qua ứng dụng công nghệ để kiểm soát lượng protein nạp vào và hoạt động thể chất. Kết quả thử nghiệm trên 32 bệnh nhân ở giai đoạn khả thi đạt tỷ lệ tuân thủ đeo thiết bị đo vận động là 91% và ghi nhận người bệnh tăng cường nhận thức về quá trình phục hồi, đạt mục tiêu đạm tối ưu giúp cải thiện rõ rệt chức năng thể chất.
- Nghiên cứu MMP-LUNG (PMID: 40404185): thử nghiệm ngẫu nhiên kiểm chứng hiệu quả của việc bổ sung dinh dưỡng hỗn hợp (gồm đạm whey, leucine, vitamin D, dầu cá) từ 4-6 tuần trước mổ đến 6 tuần sau xuất viện giúp giảm thiểu tình trạng giảm khối cơ, nhiễm mỡ cơ và suy dinh dưỡng, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật.
- Nghiên cứu của Ferreira và cộng sự (PMID: 33786870): phân tích dữ liệu từ 162 bệnh nhân phẫu thuật cắt phổi cho thấy 37.7% bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng vừa và 11.1% có nguy cơ suy dinh dưỡng nặng. Nhóm nguy cơ suy dinh dưỡng nặng có khoảng cách đi bộ 6 phút (6MWT) ban đầu thấp nhất (416 m) nhưng lại là nhóm đạt mức tiến triển lớn nhất (tăng trung bình 58.9 m) sau khi được can thiệp dinh dưỡng và vận động đa thành phần trước mổ.
- Nghiên cứu của Oliveira và cộng sự (PMID: 39796440): khảo sát 53 bệnh nhân ung thư phổi nhập viện ghi nhận có đến 90.6% bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng ở thời điểm nhập viện, trong đó 45.3% bị suy dinh dưỡng vừa và 35.8% suy kiệt nặng. Sau khi áp dụng can thiệp thay đổi chế độ ăn và bổ sung dinh dưỡng đường uống, tỷ lệ có nguy cơ suy dinh dưỡng khi xuất viện giảm xuống còn 73.6%, cho thấy can thiệp dinh dưỡng giúp đảo ngược đáng kể xu hướng suy kiệt.
Chế độ dinh dưỡng phục hồi theo chuẩn Bộ Y tế
Chế độ ăn chống viêm, giàu chất chống oxy hóa, chất xơ và bổ sung đủ lượng đạm đóng vai trò cốt lõi trong việc hỗ trợ tái tạo các mô tổn thương sau phẫu thuật và nâng cao miễn dịch (PMID: 33402449). Người bệnh cần duy trì lượng đạm nạp vào ở mức cao, khoảng 1.5-2 g/kg cân nặng mỗi ngày để bù đắp lượng cơ bị mất do quá trình dị hóa (PMID: 34764833).
Bên cạnh đạm, việc tăng cường các acid béo omega-6 và omega-3 từ dầu thực vật hoặc cá béo giúp bảo vệ tim mạch, cải thiện hồ sơ lipoprotein máu và hỗ trợ phục hồi cơ bắp mà không làm tăng phản ứng viêm của cơ thể (PMID: 36060573). Đối với các trường hợp người bệnh bị suy kiệt nặng, việc kết hợp giữa điều chỉnh thực đơn hằng ngày và sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng bổ sung đường uống chứa đạm whey, leucine, vitamin D và dầu cá là giải pháp tối ưu để nâng cao thể trạng (PMID: 39796440, PMID: 40404185).

Khi nào nên phẫu thuật u phổi và quy trình điều trị
Phẫu thuật là phương pháp điều trị triệt căn mang lại cơ hội chữa khỏi cao nhất cho bệnh nhân u phổi giai đoạn sớm (PMID: 42139296).
So sánh phẫu thuật và điều trị không phẫu thuật
- Điều trị không phẫu thuật (như truyền hóa chất, xạ trị, đích, miễn dịch hoặc theo dõi bảo tồn): áp dụng cho u lành tính tiến triển chậm hoặc ung thư phổi giai đoạn muộn đã di căn, hoặc người bệnh quá yếu không đủ điều kiện chịu đựng cuộc mổ. Phương pháp này giúp kiểm soát u nhưng không thể loại bỏ hoàn toàn tổn thương, đồng thời có thể gây ra các tác dụng phụ toàn thân như chán ăn, mệt mỏi, suy tủy (PMID: 39202551, PMID: 34609950).
- Điều trị phẫu thuật: áp dụng nhằm cắt bỏ hoàn toàn thùy phổi chứa u và nạo vét hạch vùng. Phẫu thuật giúp loại bỏ gốc rễ khối u một cách triệt để, ngăn chặn tái phát tại chỗ và kéo dài thời gian sống cho người bệnh (PMID: 40422503).
Khi nào nên phẫu thuật
Phẫu thuật được chỉ định cụ thể cho các trường hợp u phổi biệt hóa rõ, u có kích thước tiến triển, u phổi lành tính gây chèn ép mạch máu hoặc đường thở, và ung thư phổi tế bào nhỏ hoặc không tế bào nhỏ ở giai đoạn khu trú (giai đoạn I, II và một số trường hợp IIIa) chưa có di căn xa (PMID: 42139296, PMID: 40063931).
Những điều cần biết trước khi phẫu thuật
Người bệnh sẽ được bác sĩ đánh giá toàn diện về chức năng hô hấp (đo FEV1, MVV), xét nghiệm máu và chụp cắt lớp vi tính (CT) để đánh giá khối cơ (PMID: 39026246, PMID: 41932608). Bác sĩ sẽ tư vấn về việc thực hiện chương trình tiền phục hồi (prehabilitation) tối thiểu 2-4 tuần trước mổ, bao gồm: tập thở với dụng cụ, tập các bài tập tăng sức bền, thực hiện chế độ ăn giàu đạm để nâng cao dự trữ sinh lý, hướng dẫn nhịn ăn uống đúng giờ trước mổ và cách ho khạc giảm đau sau mổ (PMID: 34764833, PMID: 33752968).
Thời gian nằm viện
Nhờ sự phát triển của phẫu thuật nội soi lồng ngực ít xâm lấn (VATS) hoặc phẫu thuật robot (RATS), thời gian nằm viện của người bệnh đã được rút ngắn đáng kể (PMID: 40422503). Người bệnh cần thời gian nằm viện trung bình từ 3 đến 7 ngày tùy thuộc vào loại hình phẫu thuật, tốc độ lành vết thương và khả năng phục hồi chức năng hô hấp (PMID: 39026246, PMID: 38608111).
Các biến chứng có thể gặp phải sau phẫu thuật và nguyên tắc xử trí
Sau khi thực hiện phẫu thuật cắt u phổi, người bệnh có thể đối mặt với một số biến chứng từ nhẹ đến nặng:
- Đau sau mổ: mức độ từ nhẹ đến vừa. Nguyên tắc xử trí là áp dụng giảm đau đa mô thức (thuốc uống, truyền tĩnh mạch hoặc phong bế thần kinh liên sườn) kết hợp vận động sớm để tránh xẹp phổi (PMID: 38608111).
- Rò khí kéo dài: khí thoát ra từ nhu mô phổi qua ống dẫn lưu trên 5 ngày. Nguyên tắc xử trí là tiếp tục hút dẫn lưu áp lực âm nhẹ hoặc chuyển sang dẫn lưu trọng lực, hướng dẫn người bệnh ho khạc đúng cách để phổi nở tốt tự bít lỗ rò.
- Rung nhĩ sau mổ: rối loạn nhịp tim cấp tính. Nguyên tắc xử trí là kiểm soát tần số tim bằng các thuốc kháng loạn nhịp và bổ sung điện giải kịp thời (PMID: 39026246).
- Xẹp phổi và viêm phổi: do ứ đọng đờm rãi. Nguyên tắc xử trí là kháng sinh thích hợp, kết hợp vật lý trị liệu hô hấp tích cực, khuyến khích người bệnh ngồi dậy, đi lại sớm và ho khạc để tống đờm (PMID: 38312912).
- Tràn dịch dưỡng chấp màng phổi (chylothorax): biến chứng xảy ra do tổn thương ống ngực trong quá trình nạo vét hạch, gây rò dịch dưỡng chấp chứa nhiều đạm và chất béo vào khoang màng phổi (PMID: 41188913).
- Nguyên tắc xử trí ban đầu: áp dụng chế độ ăn kiêng hoàn toàn chất béo hoặc nhịn ăn tuyệt đối, nuôi dưỡng hoàn toàn qua đường tĩnh mạch (TPN) để làm giảm lưu lượng dịch rò (PMID: 41188913, PMID: 39026246).
- Xử trí can thiệp: nếu điều trị không phẫu thuật bằng nhịn ăn không hiệu quả, bác sĩ sẽ thực hiện gây dính màng phổi bằng glucose ưu trương hoặc các chất gây dính qua ống dẫn lưu (PMID: 34049583). Các trường hợp rò lượng lớn kéo dài (>500 mL/ngày) sẽ có chỉ định phẫu thuật lại để thắt ống ngực nhằm tránh suy dinh dưỡng và mất điện giải nghiêm trọng (PMID: 41188913).
Kết luận
Chế độ dinh dưỡng giàu đạm kết hợp vận động sớm theo chuẩn Bộ Y tế là nền tảng giúp người bệnh nhanh chóng phục hồi chức năng phổi và bảo tồn khối cơ sau điều trị u phổi. Việc lựa chọn đúng phương pháp điều trị, đặc biệt là can thiệp phẫu thuật ít xâm lấn đúng thời điểm, quyết định phần lớn hiệu quả điều trị triệt căn. Người bệnh không nên tự ý áp dụng các chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt không rõ nguồn gốc dẫn đến suy kiệt thể trạng. Hãy đến thăm khám trực tiếp tại các cơ sở y tế chuyên khoa để được bác sĩ tư vấn phác đồ điều trị và dinh dưỡng cá thể hóa an toàn nhất.
Nếu bạn hoặc người thân đang có khối u phổi hoặc gặp khó khăn trong quá trình hồi phục thể trạng sau điều trị, hãy liên hệ ngay với chúng tôi. Người bệnh nên đến khám trực tiếp Bác sĩ Trần Quốc Hoài - Trung tâm Lồng ngực - Mạch máu tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM để được đánh giá toàn diện chức năng hô hấp và xây dựng phác đồ điều trị phẫu thuật ít xâm lấn kết hợp dinh dưỡng phục hồi chuẩn y khoa.
Tài liệu tham khảo
- Miura S, Naito T, Mitsunaga S, et al. A randomized phase II study of nutritional and exercise treatment for elderly patients with advanced non-small cell lung or pancreatic cancer: the NEXTAC-TWO study protocol. BMC Cancer. 2019. PMID: 31151425.
- Haesevoets S, Muijsenberg AJL, Cops D, et al. The lived experiences of individuals with early stage non-small cell lung cancer following lung surgery: A rapid ethnographic approach. PLoS One. 2026. PMID: 42139296.
- Thöne C, Ten Dam SM, de Leeuwerk ME, et al. The association between preoperative computed tomography -determined muscle characteristics and postoperative recovery in physical functioning and physical performance in patients undergoing gastrointestinal or lung cancer surgery. JPEN J Parenter Enteral Nutr. 2025. PMID: 41932608.
- de Leeuwerk ME, van Westerhuis C, Kruizenga H, et al. Implementation fidelity of the blended optimal physical recovery after hospitalization (OPRAH) intervention for patients after oncological surgery. Disabil Rehabil. 2025. PMID: 41331231.
- Son J, Kim S, Son BS, et al. Outcomes of conservative management for chylothorax following minimally invasive lung cancer surgery. J Cardiothorac Surg. 2024. PMID: 41188913.
- van Westerhuis C, de Leeuwerk ME, van der Werf EWJ, et al. Promising patient experiences with a smartphone app and remote coaching for improving physical activity and protein intake to enhance recovery after oncological surgery: a multi-methods study. Support Care Cancer. 2024. PMID: 40536595.
- Cusumano G, Calabrese G, Gallina FT, et al. Technical Innovations and Complex Cases in Robotic Surgery for Lung Cancer: A Narrative Review. J Clin Med. 2024. PMID: 40422503.
- Moyen A, Fleurent-Grégoire C, Gillis C, et al. Novel multimodal intervention for surgical prehabilitation on functional recovery and muscle characteristics in patients with non-small cell lung cancer: study protocol for a randomised controlled trial (MMP-LUNG). Trials. 2024. PMID: 40404185.
- Werblińska A, Zielińska D, Szlanga L, et al. The Impact of Nutritional Support on Outcomes of Lung Cancer Surgery-Narrative Review. Nutrients. 2024. PMID: 40364228.
- de Leeuwerk M, Ten Dam S, van der Heide M, et al. The Optimal Physical Recovery After Hospitalization (OPRAH) intervention to improve physical activity and protein intake after oncological surgery: a feasibility study. Pilot Feasibility Stud. 2024. PMID: 39901855.
- Oliveira R, Cabrita B, Cunha Â, et al. The Effect of Nutritional Intervention in Nutritional Risk Screening on Hospitalised Lung Cancer Patients. Nutrients. 2024. PMID: 39796440.
- Kong XL, Zhang Y, Jia Y, et al. Safety of one 8.5-Fr pigtail catheter for postoperative continuous open gravity drainage after uniportal video-assisted thoracoscopic surgery pneumonectomy. BMC Surgery. 2024. PMID: 39026246.
- Huang L, Hu Y, Chen J. Effectiveness of an ERAS-based exercise-nutrition management model in enhancing postoperative recovery for thoracoscopic radical resection of lung cancer: A randomized controlled trial. Medicine (Baltimore). 2024. PMID: 38608111.
- Li J, Zheng J. Effect of lung rehabilitation training combined with nutritional intervention on patients after thoracoscopic resection of lung cancer. Oncol Lett. 2024. PMID: 38312912.
- de Leeuwerk M, de Groot V, Ten Dam S, et al. The efficacy of a blended intervention to improve physical activity and protein intake for optimal physical recovery after oncological gastrointestinal and lung cancer surgery, the Optimal Physical Recovery After Hospitalization (OPRAH) trial: study protocol for a randomized controlled multicenter trial. Trials. 2023. PMID: 38008734.
- Kim HK, Kang EY, Go GW. Recent insights into dietary ω-6 fatty acid health implications using a systematic review. Nutrients. 2022. PMID: 36060573.
- Ellenberger C, Schorer R, Bedat B, et al. How can we minimize the risks by optimizing patient's condition shortly before thoracic surgery? J Thorac Dis. 2021. PMID: 34764833.
- Zhang K, Li C, Zhang M, et al. Treatment of Chylothorax complicating pulmonary resection with hypertonic glucose Pleurodesis. J Cardiothorac Surg. 2021. PMID: 34049583.
- Ferreira V, Lawson C, Gillis C, et al. Malnourished lung cancer patients have poor baseline functional capacity but show greatest improvements with multimodal prehabilitation. Nutrition. 2021. PMID: 33786870.
- Minnella EM, Baldini G, Le Quang AT, et al. Prehabilitation in Thoracic Cancer Surgery: From Research to Standard of Care. J Cardiothorac Vasc Anesth. 2021. PMID: 33752968.
- Kasprzyk A, Bilmin K, Chmielewska-Ignatowicz T, et al. The Role of Nutritional Support in Malnourished Patients With Lung Cancer. In Vivo. 2021. PMID: 33402449.
Bình luận