Tổng quan y khoa về quản lý cơn đau trong chăm sóc giảm nhẹ u phổi theo chuẩn Bộ Y tế Đau là một trong những triệu chứng phổ biế...
Tổng quan y khoa về quản lý cơn đau trong chăm sóc giảm nhẹ u phổi theo chuẩn Bộ Y tế
Đau là một trong những triệu chứng phổ biến và gây kiệt quệ nhất ở người bệnh u phổi giai đoạn tiến triển. Tình trạng này không chỉ gây tổn hại về mặt sinh lý như làm suy giảm chức năng hô hấp, hạn chế vận động, mà còn tác động tiêu cực đến tâm lý, dẫn đến lo âu, trầm cảm và làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống. Chăm sóc giảm nhẹ và quản lý cơn đau kịp thời theo các hướng dẫn y khoa chuẩn hóa đóng vai trò then chốt giúp người bệnh duy trì thể trạng để tiếp tục đồng hành cùng các liệu pháp điều trị đặc hiệu.
Nghiên cứu y khoa về quản lý cơn đau ở người bệnh u phổi
Các dữ liệu lâm sàng quy mô lớn trên thế giới đã chỉ ra thực trạng và hiệu quả của các biện pháp kiểm soát đau trong chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh u phổi:
- Một phân tích gộp từ dữ liệu của 1.021 bệnh nhân tại Ý được công bố trên tạp chí y khoa (PMID: 15162156) cho thấy có đến 74% người bệnh u phổi phải chịu đựng các cơn đau ở các mức độ khác nhau, trong đó 50% ghi nhận đau làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động hằng ngày. Đáng chú ý, có tới 82% người bệnh trong số này chưa được điều trị giảm đau tối ưu, điều này làm sụt giảm tuyến tính điểm chất lượng cuộc sống toàn cầu từ 64,9 xuống chỉ còn 36,4.
- Nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng tại Trùng Khánh, Trung Quốc trên 280 bệnh nhân (PMID: 37781179) chứng minh rằng việc kết hợp sớm chăm sóc giảm nhẹ đa chuyên khoa (CEPC) giúp người bệnh kiểm soát đau tốt hơn (p = 0.003) và kéo dài thời gian sống còn toàn bộ trung vị từ 20,4 tháng lên 24,6 tháng so với nhóm chỉ điều trị ung thư tiêu chuẩn.
- Một nghiên cứu khác đánh giá chương trình quản lý đau chuyên biệt cho bệnh nhân ngoại trú (PMID: 36151980) ghi nhận thang điểm đau giảm đáng kể từ 5,1 xuống 4,7 ở lần khám thứ hai và cải thiện điểm chất lượng cuộc sống từ 55,4 lên 71,8 so với nhóm chăm sóc thông thường.
- Dữ liệu từ cuộc khảo sát quốc gia tại Trung Quốc trên 2.093 nhân viên y tế (PMID: 38812782) khẳng định đau là triệu chứng phổ biến nhất đòi hỏi phải can thiệp chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân u phổi. Đồng thời, nghiên cứu từ cơ sở dữ liệu ung thư quốc gia Hoa Kỳ trên 83.175 bệnh nhân (PMID: 36414401) cũng chỉ ra những rào cản và sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận các biện pháp giảm đau y khoa ở các nhóm tuổi và đối tượng bệnh nhân khác nhau.

So sánh các phương pháp kiểm soát đau: điều trị không phẫu thuật và điều trị phẫu thuật
Việc lựa chọn phương pháp kiểm sốat đau phụ thuộc vào nguyên nhân gây đau (do u xâm lấn tại chỗ, di căn xương, hay đau sau can thiệp) và thể trạng của từng người bệnh.
Điều trị không phẫu thuật
Phương pháp này bao gồm việc sử dụng thuốc giảm đau theo bậc thang của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), từ các thuốc kháng viêm không steroid đến các thuốc nhóm opioid (morphine, oxycodone, hydromorphone) và các thuốc phối hợp hỗ trợ (PMID: 15162156, PMID: 39198855). Ngoài ra, xạ trị giảm nhẹ hoặc kỹ thuật sử dụng dòng điện kích thích thần kinh qua da cũng thường được áp dụng (PMID: 40144780, PMID: 36072252).
- Ưu điểm: ít xâm lấn, dễ thực hiện, có thể áp dụng cho hầu hết người bệnh ở nhiều giai đoạn khác nhau và dễ dàng điều chỉnh liều lượng theo mức độ đau (PMID: 29855773).
- Nhược điểm: người bệnh có thể gặp phải các tác dụng phụ khi dùng thuốc kéo dài như táo bón nặng, buồn nôn, buồn ngủ hoặc suy hô hấp nếu dùng quá liều (PMID: 32124025, PMID: 35504245). Một số trường hợp đau do u xâm lấn cấu trúc thần kinh hoặc di căn xương thể kháng thuốc sẽ rất khó kiểm soát hiệu quả (PMID: 39198855).
Điều trị phẫu thuật và can thiệp ít xâm lấn
Phương pháp này bao gồm các can thiệp ngoại khoa như phẫu thuật giải ép tổn thương di căn cột sống, cắt dây thần kinh giảm đau, hoặc các kỹ thuật ít xâm lấn như đốt u bằng sóng vô tuyến (RFA) hay phong bế hạch thần kinh (PMID: 28890435, PMID: 33302633).
- Ưu điểm: giải quyết trực tiếp nguyên nhân cơ học gây đau, đem lại hiệu quả giảm đau nhanh chóng và bền vững, giúp người bệnh giảm đáng kể liều lượng thuốc opioid phải sử dụng, từ đó hạn chế được các tác dụng phụ của thuốc (PMID: 33302633).
- Nhược điểm: đòi hỏi người bệnh phải có đủ điều kiện sức khỏe để trải qua phẫu thuật hoặc thủ thuật, có rủi ro tai biến trong và sau mổ, chi phí điều trị thường cao hơn (PMID: 33060557).
Khi nào nên phẫu thuật hoặc can thiệp ngoại khoa giảm đau
Người bệnh u phổi được cân nhắc thực hiện các can thiệp ngoại khoa hoặc thủ thuật giảm đau trong các trường hợp cụ thể sau:
- Cơn đau mức độ vừa đến nặng, đau kéo dài dính líu đến cấu trúc thành ngực, xương sườn hoặc cột sống mà các biện pháp dùng thuốc tối ưu không đem lại hiệu quả (PMID: 33302633).
- Khối u phổi di căn xương gây mất vững cột sống hoặc chèn ép tủy sống cấp tính, có nguy cơ dẫn đến liệt chi (PMID: 17873181, PMID: 28890435).
- Người bệnh u phổi có các tổn thương khu trú ở thành ngực hoặc nhu mô phổi ngoại vi đáp ứng kém với hóa trị, xạ trị (PMID: 33302633).
Những điều cần biết trước khi phẫu thuật
- Người bệnh sẽ được đánh giá toàn diện chức năng hô hấp, tim mạch, đông máu và tổng trạng chung để đảm bảo khả năng chịu đựng cuộc mổ (PMID: 41822907).
- Bác sĩ sẽ giải thích rõ ràng về mục tiêu của ca mổ là giảm đau và bảo tồn chức năng tối đa chứ không phải là điều trị triệt căn khối u (PMID: 27585597).
- Người bệnh cần nhịn ăn uống trước thủ thuật theo đúng thời gian quy định của bác sĩ gây mê và được hướng dẫn tập thở để dự phòng các biến chứng phổi sau mổ (PMID: 40291140).
Thời gian nằm viện
Đối với các can thiệp ít xâm lấn như đốt u bằng sóng vô tuyến (RFA) hoặc phong bế thần kinh, thời gian nằm viện thường ngắn, người bệnh có thể cần lưu lại bệnh viện ít nhất 1 đêm để theo dõi các biến chứng cấp tính trước khi xuất viện (PMID: 33302633). Đối với các cuộc phẫu thuật lớn như giải ép cột sống hoặc cố định xương, thời gian nằm viện có thể kéo dài từ 3 đến 5 ngày tùy thuộc vào tốc độ hồi phục vết mổ và khả năng vận động của người bệnh.
Các biến chứng có thể gặp phải và nguyên tắc xử trí
Mọi can thiệp ngoại khoa và dùng thuốc trong kiểm soát đau đều tiềm ẩn những rủi ro nhất định, đòi hỏi việc theo dõi sát sao:
- Suy hô hấp hoặc tràn khí, tràn dịch màng phổi: thường gặp sau can thiệp thủ thuật vùng lồng ngực hoặc do tác dụng phụ ức chế hô hấp của thuốc phiện liều cao. Nguyên tắc xử trí: hỗ trợ hô hấp bằng thở oxy, dẫn lưu màng phổi kịp thời nếu có tràn khí/tràn dịch lượng nhiều, và điều chỉnh giảm liều thuốc hoặc dùng chất đối kháng khi có ngộ độc opioid (PMID: 33302633, PMID: 27585597).
- Táo bón nặng do opioid (OIC): biến chứng phổ biến nhất khi quản lý đau bằng thuốc nhóm morphine. Nguyên tắc xử trí: chủ động sử dụng thuốc nhuận tràng dự phòng ngay từ khi bắt đầu điều trị bằng thuốc phiện, tăng cường bổ sung chất xơ và nước nếu thể trạng người bệnh cho phép (PMID: 32124025).
- Nhiễm trùng vết mổ hoặc viêm phổi sau mổ: phát sinh do thể trạng người bệnh suy giảm hoặc do hạn chế ho khạc vì đau. Nguyên tắc xử trí: sử dụng kháng sinh theo phác đồ, chăm sóc vết thương vô khuẩn và thực hiện các biện pháp vật lý trị liệu hô hấp sớm (PMID: 33302633, PMID: 40291140).
- Hội chứng tăng nôn do cannabinoid hoặc tác dụng phụ thần kinh: xảy ra khi lạm dụng hoặc phối hợp sai các chất giảm đau hỗ trợ. Nguyên tắc xử trí: ngừng ngay lập tức tác nhân nghi ngờ và chuyển sang các nhóm thuốc thay thế an toàn hơn dưới sự giám sát y khoa (PMID: 35504245).
Kết luận
Quản lý cơn đau trong chăm sóc giảm nhẹ u phổi là một quá trình liên tục và đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của nhiều chuyên khoa từ ung bướu, phẫu thuật lồng ngực đến gây mê hồi sức. Việc nhận biết đúng thời điểm để chuyển hướng từ điều trị không phẫu thuật sang các can thiệp phẫu thuật hoặc thủ thuật ít xâm lấn có thể mang lại bước ngoặt lớn, giúp người bệnh thoát khỏi những cơn đau dằn vặt và cải thiện đáng kể những ngày tháng sống còn. Do đặc điểm bệnh lý của mỗi người là khác nhau, người bệnh và gia đình cần đến khám trực tiếp tại các cơ sở y tế chuyên khoa để được bác sĩ thăm khám, đánh giá toàn diện và tư vấn phương án điều trị tối ưu, an toàn nhất.
Để kiểm soát tốt các cơn đau và nhận được phác đồ chăm sóc giảm nhẹ u phổi toàn diện, người bệnh và gia đình nên đến khám trực tiếp với Bác sĩ Trần Quốc Hoài - Trung tâm Lồng ngực - Mạch máu. Việc thăm khám sớm sẽ giúp xác định chính xác nguyên nhân gây đau và đưa ra hướng can thiệp kịp thời, phù hợp nhất với thể trạng của từng bệnh nhân.
Tài liệu tham khảo
- Xiong L, Yang X, Yuan H, et al. Perioperative EGFR-Targeted Therapy in Resectable EGFR-Mutated NSCLC: A Narrative Review from Drug Design to Pain-Informed MRD-Guided Care. Drug Des Devel Ther. 2025. PMID: 41822907.
- Cilla S, Rossi R, Donati CM, et al. Pain Management Adequacy in Patients With Bone Metastases: A Secondary Analysis From the Palliative Radiotherapy and Inflammation Study Trial. JCO Oncol Pract. 2024. PMID: 40144780.
- Yuan T, Zhou Y, Wang T, et al. Impact research of pain nursing combined with hospice care on quality of life for patients with advanced lung cancer. Medicine (Baltimore). 2024. PMID: 39259100.
- Kurosaki F, Takigami A, Takeuchi M, et al. Successful pain control with add-on methadone for refractory neuropathic pain due to radiation necrosis in pontine metastatic lesion: a case report. J Med Case Rep. 2024. PMID: 39198855.
- Chen M, Hui Structural, Huang Y, et al. Knowledge, attitudes, and current practices toward lung cancer palliative care management in China: a national survey. Front Oncol. 2024. PMID: 38812782.
- Chen M, Yu H, Yang L, et al. Combined early palliative care for non-small-cell lung cancer patients: a randomized controlled trial in Chongqing, China. BMC Cancer. 2023. PMID: 37781179.
- Khullar K, Plascak JJ, Habib MH, et al. Extensive stage small cell lung cancer (ES-SCLC) and palliative care disparities: a national cancer database study. BMJ Support Palliat Care. 2022. PMID: 36414401.
- Prisutkul A, Dechaphunkul A, Arundorn T, et al. The effectiveness of a pain management programme on pain control and quality of life in patients with metastatic cancer. Ecancermedicalscience. 2022. PMID: 36151980.
- Kashyap K, Singh V, Dwivedi SN, et al. Scrambler Therapy Enhances Quality of Life in Cancer Patients in a Palliative Care Setting: A Randomised Controlled Trial. Indian J Palliat Care. 2022. PMID: 36072252.
- Senderovich H, Waicus S. A Case Report on Cannabinoid Hyperemesis Syndrome in Palliative Care: How Good Intentions Can Go Wrong. Am J Hosp Palliat Care. 2022. PMID: 35504245.
- Zhou X, Li H, Qiao Q, et al. CT-guided percutaneous minimally invasive radiofrequency ablation for the relief of cancer related pain from metastatic non-small cell lung cancer patients: a retrospective study. J Cardiothorac Surg. 2020. PMID: 33302633.
- Brown TJ, Keshvani N, Gupta A, et al. Rates of appropriate laxative prophylaxis for opioid-induced constipation in veterans with lung cancer: a retrospective cohort study. Support Care Cancer. 2020. PMID: 32124025.
- Zheng RJ, Fu Y, Zhu J, et al. Long-term low-dose morphine for patients with moderate cancer pain is predominant factor effecting clinically meaningful pain reduction. Support Care Cancer. 2018. PMID: 29855773.
- Peeters-Asdourian C, Massard G, Rana PH, et al. Pain control in thoracic oncology. ERJ Open Res. 2017. PMID: 28890435.
- Lim RBL. End-of-life care in patients with advanced lung cancer. J Thorac Dis. 2016. PMID: 27585597.
- Wu D, Dai J, Sheng Y, et al. Evidence summary on pain management in thoracoscopic lung cancer surgery. Thorac Cancer. 2025. PMID: 40291140.
- Kvale PA, Selecky PA, Prakash UBS. Palliative care in lung cancer: ACCP evidence-based clinical practice guidelines (2nd edition). Chest. 2007. PMID: 17873181.
- Di Maio M, Gridelli C, Gallo C, et al. Prevalence and management of pain in Italian patients with advanced non-small-cell lung cancer. Br J Cancer. 2004. PMID: 15162156.
Bình luận